File In Folder: Dàn Trang Trên Khuôn Bế, Tai Gài Và Khe Name Card
File in folder phải dàn trên khuôn bế trải phẳng, không dàn trên khổ bìa đã gấp. Folder 22 × 31 cm của In Folder Bìa Kẹp Hồ Sơ của Nhà in Phát có khổ trải khoảng 45 × 40 cm gồm hai nửa bìa, gáy 5–10 mm và tai gài. File gồm hai trang (mặt ngoài, mặt trong), nền tràn 2 mm ra ngoài đường cắt, chữ cách đường cắt và đường cấn 3–5 mm, nội dung trên tai xoay ngược 180°, đường khuôn nằm ở lớp màu pha riêng không in.
Bài dành cho người trực tiếp dựng file. Cấu tạo và các kiểu folder thông dụng có ở bài folder bìa kẹp hồ sơ là gì và cấu tạo thường gặp.
KHỔ TRẢI
Khổ thành phẩm, khổ trải và khổ tờ in khác nhau thế nào?
Folder được in trên tờ phẳng, cán màng, bế (cắt viền, ép nếp cấn, rạch khe card), rồi gấp và dán. Vì vậy có ba con số khác nhau. Khổ thành phẩm là kích thước đã gấp: 22 × 31 cm chứa vừa giấy A4 (210 × 297 mm), dư 10–13 mm mỗi chiều để cho vào, rút ra dễ. Khổ trải là hình tờ giấy sau bế, trước khi gấp; đây là khung bạn dàn thiết kế. Khổ tờ in là tờ lớn hơn đưa lên máy; bố trí tờ in do bộ phận sản xuất làm.
Ví dụ tính khổ trải cho folder 22 × 31 cm, gáy 8 mm, một tai cao 90 mm:
- Chiều ngang: 220 + 8 + 220 = 448 mm; cộng tràn 2 mm mỗi cạnh = 452 mm.
- Chiều cao: 310 + 90 = 400 mm; cộng tràn = 404 mm.
Khổ trải này lớn hơn tờ A3 (297 × 420 mm) và lớn hơn tờ in kỹ thuật số thường gặp 32,5 × 48 cm. Chiều cao tai thường gặp 80–100 mm; số đúng lấy từ khuôn của đơn. Vì các số này đổi theo cấu hình, hãy chốt cấu hình và nhận khuôn trước khi căn chỉnh chi tiết: khổ, có gáy không, một hay hai tai, có khe name card không, mặt trong in hay để trắng. Khuôn tải trên mạng chỉ để hình dung.
ĐỌC KHUÔN
Các đường và lớp trên bản vẽ khuôn folder
Đọc chú giải đi kèm khuôn; nét nào chưa rõ thì hỏi trước khi dàn trang.
| Đường hoặc vùng | Việc xảy ra khi sản xuất | Người làm file cần làm | Lỗi hay gặp |
|---|---|---|---|
| Đường cắt | Dao bế tách folder khỏi giấy thừa | Kéo nền ra 2 mm ngoài đường cắt; chữ lùi vào 3–5 mm | Nền dừng đúng đường cắt, bế lệch là lộ cạnh trắng |
| Đường cấn gáy, cấn chân tai | Giấy bị ép lõm để gấp | Không đặt chữ, nét mảnh trong 3–5 mm hai bên nếp | Chữ gãy đôi, logo rơi một phần sang mặt kế bên |
| Khe name card | Dao rạch hai đường ngắn trên tai | Để trống vùng card 88 × 53 mm và quanh khe | Khe cắt ngang chữ, card che mã QR |
| Mép dán | Phết keo, úp lên mặt kia | Làm theo ghi chú khuôn về để trống mực | Chữ đặt trên mép dán bị úp kín |
| Ranh tràn | Phần ngoài đường cắt bị bỏ | Phủ nền tới ranh ở mọi cạnh, cả đường cong | Thiếu nền ở góc lõm giữa tai và bìa |
Khuôn nằm ở lớp trên cùng, khóa lại, đặt tên “Khuôn – không in”. Đường cắt tô màu pha “CutContour”, đường cấn tô màu pha “Cấn” (nét đứt), vùng dán tô màu pha “Dán”; nét 0,5–1 pt, bật overprint. Không dùng K100 hay màu CMYK cho nét khuôn, vì có thể bị in ra. Không kéo nét khuôn để thiết kế vừa hơn: sửa nét trên file không đổi được dao thật. Muốn tai cao hơn hay dời khe, gửi đề nghị làm khuôn mới; khuôn mới ảnh hưởng chi phí và lịch.
MẶT NGOÀI VÀ MẶT TRONG
Mặt ngoài, mặt trong và tai gài xoay ngược
Mặt ngoài là mặt thấy khi folder đóng: bìa trước, bìa sau, gáy. Mặt trong là hai nửa bìa thấy khi mở. Tai gài được gấp từ mép dưới lên phía trong, nên mặt tai người nhận nhìn thấy khi mở folder lại chính là mặt ngoài tờ giấy. Ba hệ quả:
- Hình trên tai nằm ở trang mặt ngoài, không nằm ở trang mặt trong.
- Nội dung trên tai xoay ngược 180° so với bìa, vì tai lật đầu khi gấp lên.
- Nếu mặt ngoài phủ nền màu, tai cũng có màu đó dù mặt trong để trắng.
Trang mặt trong chứa hai nửa bìa bên trong và mặt sau tai. Phần dưới nửa bìa có tai bị chính tai che khoảng 90 mm; khi cài tài liệu A4, phần lớn nửa đó tiếp tục bị giấy che. Với folder một tai, nửa bìa không tai là chỗ rõ nhất cho lời giới thiệu hoặc danh mục dịch vụ.
Khuôn mặt trong phải lật theo trục in hai mặt. Lật theo cạnh dọc thì nửa bìa phải ở mặt ngoài thành nửa trái ở mặt trong, nên khuôn mặt trong là hình đối xứng của khuôn mặt ngoài. Dùng nguyên khuôn mặt ngoài để dàn mặt trong là lỗi hay gặp nhất: tai, khe và mép dán nằm sai bên.

CHIỀU MỞ
Bìa trước nằm ở nửa phải của trang mặt ngoài
Folder khổ đứng thông dụng mở như cuốn sách: gáy bên trái, lật bìa trước sang trái. Trải phẳng và nhìn từ mặt ngoài, bìa trước nằm ở nửa phải, bìa sau ở nửa trái. Nhiều file bị đảo vì người làm đặt logo lớn bên trái theo thói quen đọc; khi gấp, logo nằm ở bìa sau.
Xem các mẫu bìa sơ mi folder đã giới thiệu để lấy ý tưởng phân vùng; bố cục vẫn phải dàn lại trên khuôn của đơn đang đặt.
Gáy rộng 5–10 mm tùy độ dày bộ tài liệu; thêm gáy thì hai nửa bìa bị đẩy xa nhau đúng bằng bề rộng gáy. Gáy dưới 8 mm thường không đặt chữ. Gáy 10 mm đặt được chữ cao khoảng 5 mm, chừa mỗi bên khoảng 2 mm tới đường cấn.
VÙNG AN TOÀN
Vùng an toàn quanh đường cắt, nếp cấn và khe name card
Dao bế có thể lệch nhẹ so với hình in, nếp có thể chạy lệch sang một bên đường cấn, nên chữ và mã QR cần nằm trong vùng an toàn.
| Vùng trên folder | Khoảng lùi tham khảo | Cách bố trí |
|---|---|---|
| Mép ngoài bìa trước, bìa sau | 3–5 mm từ đường cắt | Chữ lùi vào, nền tràn ra 2 mm |
| Hai bên đường cấn gáy | Khoảng 2 mm với chữ gáy; 3–5 mm với chữ trên bìa | Chữ gáy đặt giữa dải gáy |
| Chân tai (nếp cấn) | 3–5 mm | Nền chạy liền qua nếp, không đặt chữ |
| Mép trên cong của tai | 5 mm từ đường cong | Không bám chữ theo đường cong |
| Vùng card cài | Card 88 × 53 mm, chừa thêm 5 mm | Không đặt thông tin trong vùng card |
| Mã QR | Cạnh 18–22 mm, vùng trống quanh mã | Đặt ở mặt trong trái hoặc bìa sau |
Khe card là hai đường rạch ngắn trên tai giữ hai góc card. Khe thuộc khuôn: người làm file không vẽ, không tô, không dời khe. Khổ danh thiếp của Nhà in Phát là 88 × 53 mm. Card ngang cao 53 mm nằm vừa tai cao 90 mm; card dọc cao 88 mm gần bằng chiều cao tai, nên cần tai cao hơn hoặc khe đặt theo hướng card. Gửi kích thước card hoặc một tấm card thật khi xin khuôn.
Chữ quanh khe phải đọc cùng chiều với chữ trên card khi đã cài. Vùng dưới card bị che kín: không đặt thông tin ở đây, nhưng để nền liền với phần còn lại của tai thay vì ô trắng. Không vẽ khung đúng kích thước card, vì card và khe đều có sai số nhỏ, khung vừa khít dễ lộ chênh một bên.

NỀN QUA NẾP GẤP
Nền màu chạy qua gáy và tai mà không lộ lỗi
- Phủ hết khổ trải cộng 2 mm tràn ở mọi cạnh, kể cả đường cong của tai, góc lõm giữa tai và bìa, mép dán.
- Không đặt ranh giới đổi màu đúng đường cấn. Nếp lệch nhẹ là một dải mỏng màu này lấn sang mặt kia. Cho một màu chạy qua hẳn nếp rồi đổi màu cách nếp từ 5 mm trở lên.
- Nền đậm qua nếp: Couche 300 gsm hoặc Ivory, Bristol 300–350 gsm khá cứng; mảng mực đậm tại nếp có thể rạn thành vệt sáng. Cán màng BOPP và sớ giấy chạy song song với đường cấn gáy giúp giảm rạn. Cho biết vị trí mảng đậm qua nếp khi gửi file để được tư vấn giấy và lớp cán.
- Logo, chữ không đặt đè lên nếp. Muốn hiệu ứng vắt qua gáy, dùng hình khối không chữ; logo chính đặt trọn trên bìa trước.
XUẤT FILE
Xuất file folder và tự kiểm bằng bản gấp tay
- Tỷ lệ 100% của khổ trải cộng tràn. Khuôn vẽ bằng mm đặt vào tài liệu dùng pt hay inch có thể bị phóng sai; mở PDF bằng trình xem khác và đo lại khổ trang.
- Ảnh nền 300 ppi ở kích thước in thật: khổ 452 × 404 mm cần khoảng 5.340 × 4.770 px.
- Màu CMYK, cùng một giá trị màu thương hiệu ở hai mặt. Chữ nhúng font hoặc chuyển outline trên bản sao.
- Ép kim, UV định hình: vector một màu đặc 100%, mỗi gia công một lớp riêng, tránh nếp cấn, mép dán và khe card.
- PDF/X-4 là chuẩn tương thích in, giữ được màu pha và lớp trong suốt.
Khổ trải 452 × 404 mm không vừa máy in văn phòng, nên kiểm bằng hai bản:
- In trang mặt ngoài thu nhỏ 50% (khoảng 226 × 202 mm) lên tờ A4, in mặt trong lên mặt sau theo đúng trục lật. Cắt, gấp: bìa trước phải nằm phía trước, chữ trên tai đọc xuôi, mặt trong không lệch bên.
- In riêng vùng tai có khe ở tỷ lệ 100% lên A4 ngang (297 × 210 mm), cài card thật để kiểm chữ quanh khe.
Muốn duyệt màu và nếp cấn trên đúng giấy, đề nghị in thử; bản in thử có tính phí và được báo cùng báo giá.
TỪ FILE ĐẾN ĐƠN IN
Tiến độ, nơi nhận file và lưu bộ file
Folder có bế, cấn và dán là đơn có gia công, nên được hẹn lịch cụ thể theo số lượng và cấu hình; mốc khoảng 2 giờ sau khi chốt file chỉ áp cho đơn in thường không gia công. Thời gian nhận khuôn, sửa file và duyệt bản thử nằm ngoài lịch sản xuất. Số lượng lớn có thể cân nhắc in folder offset số lượng lớn. Đơn đặt cọc 70%.
Nhà in Phát có hai cơ sở tại TP.HCM: cơ sở 441/31 Điện Biên Phủ, Phường Thạnh Mỹ Tây và cơ sở 37A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Sài Gòn (Quận 1 cũ), làm việc Thứ 2 – Thứ 7, 7h30–12h và 13h–17h30, Chủ nhật nghỉ. Khi cần giao, Nhà in Phát hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.
Nhà in Phát không lưu file của khách sau đơn hàng, nên bạn giữ bộ file cuối, khuôn đã dùng và ảnh bản thử đã duyệt. Lần sau chỉ đổi nội dung thì sửa trên đúng khuôn cũ và gửi kèm khuôn; đổi cấu hình thì bắt đầu lại từ bước nhận khuôn. Khi đã có file, gửi yêu cầu tại trang In Folder Bìa Kẹp Hồ Sơ để được kiểm file và báo giá.
Giải đáp khi dựng file folder trên khuôn bế
Những tình huống người làm file gặp với khổ trải, tai gài, gáy, khe name card và ảnh nền.
Đơn chỉ in mặt ngoài, mặt trong để trắng thì tai gài trắng hay có hình?
Tai vẫn có hình, vì mặt tai người nhận nhìn thấy thuộc mặt ngoài tờ giấy. Nếu mặt ngoài phủ nền kín khổ trải, nền đó phủ cả tai. Muốn tai trắng, để trống vùng tai trên trang mặt ngoài và xem bản gấp tay trước khi duyệt.
Ảnh nền phủ kín folder cần bao nhiêu pixel?
Tính theo khổ trải, không theo khổ bìa. Khổ trải khoảng 452 × 404 mm cần khoảng 5.340 × 4.770 px để đạt 300 ppi. Ảnh 3.000 px chiều ngang chỉ đạt khoảng 170 ppi, nhìn được ở khoảng cách tay cầm nhưng chi tiết nhỏ sẽ mềm. Tránh để mặt người hoặc chữ trong ảnh rơi đúng vùng gáy.
Công ty dùng name card dọc thì folder cần gì khác?
Card dọc 53 × 88 mm cao gần bằng tai 90 mm, nên cần tai cao hơn hoặc khe đặt theo hướng card dọc. Báo hướng card ngay khi chốt cấu hình để khuôn có khe đúng hướng. Chữ trên tai sau đó bố trí cùng chiều đọc với card.
Folder cần chứa bộ hồ sơ dày khoảng 50 tờ thì chọn gáy bao nhiêu?
50 tờ giấy Fort 80 gsm dày khoảng 5 mm, nên gáy 5–6 mm là vừa; bộ 80–100 tờ cần gáy 8–10 mm. Gáy hẹp hơn độ dày tài liệu làm tai bị bung, gáy rộng quá làm folder rỗng lỏng.
Bìa trước và gáy khác màu thì ranh giới đặt ở đâu?
Cho màu bìa chạy qua hẳn đường cấn rồi mới đổi màu cách nếp từ 5 mm trở lên, hoặc cho màu gáy tràn sang bìa. Đặt ranh giới đúng trên nếp thì chỉ cần nếp lệch nhẹ là thấy một dải màu lấn sang mặt kia, rõ nhất khi xếp nhiều folder cạnh nhau.
Đường cắt và đường cấn trong file nên tô màu gì?
Tô bằng màu pha đặt tên riêng: “CutContour” cho đường cắt, “Cấn” cho nếp gấp, “Dán” cho mép dán; nét 0,5–1 pt, bật overprint, đặt ở lớp khóa tên “Khuôn – không in”. Không dùng K100 hoặc màu CMYK cho nét khuôn, vì màu xử lý có thể bị in ra trên thành phẩm.
Đổi một dòng chữ trên tai sau khi đã duyệt bản thử thì có phải in thử lại không?
Thường không, nếu chỉ đổi chữ, không đổi màu, không đổi khuôn và chữ mới vẫn cách khe card, nếp tai, mép cong tối thiểu 3–5 mm. Xuất file mới với tên mới, ghi rõ thay đổi. Chữ dài hơn tiến sát khe thì kiểm lại bằng bản gấp tay tỷ lệ 100%.

