In Đồ Án Kiến Trúc
In đồ án kiến trúc cần giữ đúng tỷ lệ, nét và khổ của từng tờ bản vẽ. Nhà in Phát in bản vẽ khổ A0–A3 trên giấy Fort 80–120 gsm, phối cảnh trên Couche hoặc giấy ảnh, bảng trình bày bồi formex, và đóng cuốn thuyết minh, hồ sơ. Bạn gửi PDF xuất đúng tỷ lệ kèm danh sách tờ theo khổ; nhân viên kiểm file miễn phí, báo giá theo số lượng và quy cách, đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file.
In đồ án kiến trúc gồm những gì
In đồ án kiến trúc là quá trình chuyển đổi các bản vẽ thiết kế kỹ thuật số hoặc bản vẽ tay (sau khi được số hóa) thành bản in vật lý trên các loại giấy với kích thước và quy cách khác nhau.
Các bản in này thể hiện chi tiết mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, phối cảnh, các hệ thống kỹ thuật (điện, nước, thông gió, điều hòa…), chi tiết cấu tạo và các thông tin quan trọng khác của một công trình kiến trúc.

Các tờ trong một bộ đồ án kiến trúc và quy cách in
| Thành phần | Khổ thường dùng | Giấy / vật liệu | Yêu cầu khi in |
|---|---|---|---|
| Tổng mặt bằng, mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt | A1, A0 | Fort 80–120 gsm | Giữ đúng tỷ lệ; in đen trắng hoặc màu theo yêu cầu khoa |
| Chi tiết cấu tạo, bản vẽ kỹ thuật phụ trợ | A2, A3 | Fort 80–120 gsm | Nét mảnh và chữ chú thích phải đọc được ở khổ in |
| Phối cảnh, diễn họa | A3 đến A0 | Couche hoặc giấy ảnh | Ảnh 150–200 ppi ở khổ A2–A0; duyệt màu bằng tờ mẫu khi cần |
| Bảng trình bày treo hoặc dựng | A1, A0 | PP bồi formex 3 hoặc 5 mm | Nền tràn mép chừa 3–5 mm |
| Thuyết minh, phụ lục | A4, A3 | Fort cho chữ; Couche 150–300 gsm cho trang phối cảnh | Đóng lò xo, keo nhiệt hoặc bìa cứng; chừa lề gáy |


Quy cách in đồ án kiến trúc tại Nhà in Phát
1. Cách in
- In phun khổ lớn: dùng cho bản vẽ màu, phối cảnh và bảng trình bày A2–A0; in được trên giấy Fort, Couche, giấy ảnh và PP.
- In đen trắng khổ lớn: dùng cho bộ bản vẽ kỹ thuật nhiều tờ, chi phí thấp hơn in màu.
2. Kích thước (ISO 216)
- A0 (841 × 1189 mm): khổ lớn nhất của dãy A, dùng cho tổng mặt bằng và bảng tổng hợp; khổ dài hơn in theo cuộn.
- A1 (594 × 841 mm): khổ chính của nhiều bộ bản vẽ đồ án.
- A2 (420 × 594 mm): bản vẽ chi tiết, bản vẽ hệ thống kỹ thuật.
- A3 (297 × 420 mm): bản vẽ thu nhỏ để đóng tập, bảng thống kê.
- A4 (210 × 297 mm): thuyết minh và phụ lục.
3. Giấy
- Fort 80–120 gsm: giấy không tráng phủ, mặt nhám, dễ ghi chú bằng bút; dùng cho bản vẽ kỹ thuật.
- Couche (bóng hoặc mờ): giấy tráng phủ, màu in tươi, chi tiết rõ; dùng cho phối cảnh và trang trình bày.
- Bristol: giấy bìa tráng phủ, mặt mịn, cứng tay; dùng cho bìa hồ sơ.
- Giấy ảnh: cho phối cảnh cần độ chuyển màu mịn.
Nếu khoa yêu cầu giấy can hoặc giấy đặc biệt khác, hỏi trước khi chốt file để nhân viên báo có nhận hay không.
4. Gia công
- In tờ rời: bản vẽ in riêng từng tờ theo khổ.
- Đóng quyển: bấm kim, lò xo hoặc keo nhiệt theo thứ tự tờ đã duyệt.
- Cán màng bóng hoặc mờ: chống trầy và bám bẩn cho bìa, bảng; màng không làm mép giấy chống nước.
- Bồi formex: dán bản in lên tấm formex 3 hoặc 5 mm để bảng cứng, dễ dựng khi trình bày.
- Gấp bản vẽ: gấp khổ lớn về A4 hoặc A3, chừa khung tên ở mặt ngoài để tra cứu.
Ai thường đặt in đồ án kiến trúc
Sinh viên kiến trúc in bộ đồ án môn học và tốt nghiệp; kiến trúc sư và văn phòng thiết kế in bản vẽ trình khách, hồ sơ thiết kế, bản vẽ đem ra công trường. Hai nhóm có cùng yêu cầu kỹ thuật: tờ in phải đúng khổ, đúng tỷ lệ, nét phân cấp rõ và đóng đúng thứ tự. Nội dung bản vẽ, con dấu, chữ ký do người thiết kế chịu trách nhiệm; nhà in kiểm phần kỹ thuật in.
In Nhanh Phát nhận in đồ án kiến trúc tại Quận 1 và Bình Thạnh.
Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong ngành in nhanh kỹ thuật số, Nhà in Phát nhận in đồ án kiến trúc tại hai cơ sở 441/31 Điện Biên Phủ và 37A Nguyễn Đình Chiểu, TP.HCM.
Chúng tôi hiểu rõ tầm quan trọng của từng bản in đối với công việc của bạn, vì vậy mỗi bộ bản vẽ đều được kiểm khổ, tỷ lệ và nét trước khi in.
Phương pháp in và gia công:
- In phun khổ lớn cho bản vẽ màu và phối cảnh A2–A0.
- In đen trắng cho bản vẽ kỹ thuật số lượng nhiều, chi phí thấp hơn in màu.
- Gia công sau in: cắt, gấp bản vẽ, đóng quyển, cán màng, bồi formex.

Đặt in, tiến độ và nhận hàng
- Kiểm file in miễn phí; lỗi cần chỉnh sửa được báo phương án và chi phí trước khi làm.
- Đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; bộ nhiều tờ khổ lớn, bồi formex, đóng bìa cứng được hẹn lịch cụ thể.
- Đặt cọc 70% khi chốt đơn; không nhận công nợ.
- Nhận tại 441/31 Điện Biên Phủ hoặc 37A Nguyễn Đình Chiểu, hoặc hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển; bản vẽ khổ lớn được cuộn ống, không gập.
- Giá theo số lượng và quy cách, báo trước khi in; ưu đãi (nếu có) theo trang khuyến mãi.
Hãy để Nhà in Phát nhận in bộ đồ án của bạn. Liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và báo giá cụ thể.
Kiểm chứng tỷ lệ bản vẽ từ file CAD tới tờ in
Bản vẽ đúng tỷ lệ cần được kiểm ở cả lúc xuất PDF và lúc in PDF. Một layout đã thiết lập đúng vẫn có thể bị thu nhỏ nếu bước in tiếp theo chọn chế độ tự khớp vào vùng giấy. Vì vậy, ghi tỷ lệ trên khung tên chưa đủ để xác nhận kích thước tờ in thực tế.
- Kiểm trong CAD: xác nhận đơn vị bản vẽ, tỷ lệ viewport, khổ layout và vùng plot. Xem Plot Preview để phát hiện khung tên, ký hiệu hoặc đường nét bị cắt.
- Kiểm PDF: đối chiếu kích thước trang với khổ đã chốt và giữ nguyên các chi tiết vector khi quy trình xuất cho phép. Kiểm lại nét và chữ ở kích thước đọc thực tế.
- Kiểm tờ test: yêu cầu không tự thu/phóng khi cần giữ tỷ lệ. Dùng đoạn kiểm có kích thước biết trước để đối chiếu bằng thước trên tờ in.
| Phép kiểm | Dấu hiệu cần xem | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Kích thước | Đoạn kiểm trên giấy không tương ứng tỷ lệ đã chốt | Đối chiếu layout, PDF và thiết lập in, không sửa tỷ lệ bằng phỏng đoán |
| Phân cấp nét | Nét mặt cắt, nét thấy và nét phụ khó phân biệt | Kiểm bảng nét và mẫu in cùng khổ; không chỉ dựa vào độ phóng đại màn hình |
| Thông tin sát mép | Khung tên, chú thích hoặc dấu gấp bị cắt | Xác nhận vùng in của thiết bị và khổ giấy thay vì chọn Fit tự động |
Ví dụ kiểm tra: một đoạn dài 10 m trong bản vẽ ở tỷ lệ 1:100 phải thể hiện thành đoạn 100 mm trên giấy. Đây là phép quy đổi tỷ lệ, không phải cam kết dung sai sản xuất. Đoạn kiểm nên nằm trong file được duyệt và phải kiểm lại nếu đổi khổ thành phẩm hoặc thay cách xuất.
Tách tờ kiểm kỹ thuật khỏi tờ trình bày ý tưởng
Khi in đồ án kiến trúc, một tờ phối cảnh có thể ưu tiên bố cục trình bày, còn mặt bằng và mặt cắt cần giữ tỷ lệ đã yêu cầu. Lập danh sách theo từng tờ: mã bản vẽ, tên file PDF, khổ thành phẩm, tỷ lệ cần giữ và yêu cầu in màu hay đen trắng. Nếu một tờ có nhiều viewport, kiểm từng vùng có tỷ lệ khác nhau thay vì chỉ đo một đoạn rồi kết luận cả tờ đúng.
Đối chiếu một đoạn theo chiều ngang và một đoạn theo chiều dọc ở vùng bản vẽ cần kiểm; tránh dùng đường viền trang làm căn cứ duy nhất. Khi phát hiện sai, giữ lại tờ test và file đã gửi để xác định lỗi ở bước xuất hay bước in. Không yêu cầu thu/phóng bằng một tỷ lệ ước lượng vì có thể làm đúng một vùng nhưng sai vùng khác.
Phiếu nghiệm thu bản vẽ kiến trúc
- Đúng mã tờ, thứ tự, tên đề tài và phiên bản PDF đã duyệt.
- Khổ giấy và đoạn kiểm tương ứng yêu cầu tỷ lệ; không lẫn bản thu nhỏ dùng để tham khảo.
- Nét mặt cắt, nét thấy và nét phụ phân biệt được; chữ chú thích, số kích thước và ký hiệu đọc được.
- Khung tên và thông tin sát mép không bị cắt; vị trí gấp không che phần cần đọc theo cách nộp bài đã chốt.
Nếu nhà trường cho phép thu nhỏ để đóng cuốn, ghi rõ tờ nào là bản thu nhỏ và tờ nào phải giữ tỷ lệ. Với bộ nhiều khổ, nên có danh sách thứ tự tờ và cách gấp riêng. Tham khảo các hạng mục in đồ án sinh viên để phối hợp bản vẽ với thuyết minh và bảng trưng bày, không thay thế yêu cầu của khoa.

Giải đáp trước khi in
28 câu hỏi kiểm bản vẽ khi in đồ án kiến trúc
Viewport đúng tỷ lệ nhưng bản in nhỏ hơn dự kiến cần kiểm từ đâu?
Đối chiếu kích thước trang PDF với layout, sau đó kiểm cách thu/phóng lúc in. Nếu PDF đúng nhưng tờ test nhỏ hơn, không sửa viewport ngay; cần xác định bước in có tự khớp vào vùng giấy hay không.
Một tờ kiến trúc có hai viewport khác tỷ lệ nghiệm thu thế nào?
Chọn một đoạn có kích thước biết trước trong từng viewport và quy đổi theo tỷ lệ tương ứng. Ghi rõ vị trí đo; một vùng đạt không chứng minh vùng còn lại đúng vì chúng có thể được thiết lập độc lập.
Khóa viewport giúp tránh lỗi gì trước khi xuất hồ sơ?
Khóa giúp hạn chế thao tác zoom hoặc pan làm thay đổi vùng nhìn đã chốt trong layout. Sau khi khóa vẫn phải kiểm bản PDF: trạng thái khóa không xác nhận khổ giấy, bảng nét hoặc thiết lập thu/phóng khi in.
Model dùng mét nhưng layout dùng milimét cần lưu ý gì?
Xác định đơn vị ở model và cách quy đổi trong viewport trước khi chốt tỷ lệ. Kiểm một kích thước thực đã biết trên PDF và tờ test; không nhập tỷ lệ quen dùng mà bỏ qua sự khác biệt đơn vị.
Nên chọn đoạn nào làm thước kiểm tỷ lệ trên bản kiến trúc?
Chọn đoạn thẳng có kích thước rõ, nằm trong vùng kỹ thuật cần giữ tỷ lệ và không bị che bởi chú thích. Ưu tiên đoạn đủ dài để đọc thước, bổ sung kiểm theo hai phương nếu cần phát hiện co giãn không đồng đều.
Khổ giấy đúng có chứng minh tỷ lệ mặt bằng đúng không?
Không. Kích thước tờ giấy chỉ xác nhận một phần quy cách; viewport hoặc thao tác in có thể làm mặt bằng sai tỷ lệ. Cần đo đoạn kiểm trong chính vùng mặt bằng, đồng thời đối chiếu tỷ lệ được ghi trên khung tên.
Từ A1 thu xuống A3 có giữ nguyên tỷ lệ ghi trong khung tên không?
Không mặc định. Khi toàn bộ nội dung được thu nhỏ, tỷ lệ biểu diễn thay đổi. Chỉ dùng bản thu nhỏ theo yêu cầu đã chốt và phân biệt với bản phải giữ tỷ lệ; không dùng nhãn tỷ lệ cũ như bằng chứng kích thước còn đúng.
Fit và Actual Size có thể được chọn tùy ý với bản vẽ kỹ thuật không?
Không nếu bản vẽ cần giữ tỷ lệ. Fit có thể co giãn nội dung để vừa vùng in; Actual Size cần khổ giấy và vùng in phù hợp để tránh cắt mép. Chốt cách in và xem tờ test trước khi chạy cả bộ.
Nét mặt cắt biến thành mảng đen nên kiểm gì?
Xem độ dày nét, khoảng cách giữa nét và cách fill hoặc hatch trong file xuất. Kiểm bản test đúng kích thước: vùng rõ trên màn hình phóng lớn có thể bị bít trên giấy. Không giảm đồng loạt mọi nét khi chỉ một nhóm bị lỗi.
Nét phụ biến mất nhưng nét chính vẫn rõ có phải chỉ do máy in không?
Chưa đủ căn cứ. Kiểm độ dày, màu, lớp đối tượng và bảng nét dùng lúc xuất PDF. So file với tờ test cùng khổ để xác định phần mất ở bước xuất hay in, rồi xử lý đúng nhóm nét bị ảnh hưởng.
Hatch dày trong mặt bằng nên duyệt ở mức zoom nào?
Duyệt thêm trên tờ test ở kích thước sử dụng. Zoom lớn chỉ giúp xem cấu trúc; chưa phản ánh mật độ hatch trên giấy. Chọn vùng hatch sát ký hiệu hoặc chữ để kiểm khả năng phân biệt, không chỉ vùng trống dễ đọc.
Một CTB khác có thể làm tờ in thay đổi dù hình học không đổi không?
Có thể, vì bảng nét có thể thay cách thể hiện màu và độ dày nét. Ghi nhận CTB đã dùng cho bản duyệt, xuất lại khi thay cấu hình và so những nhóm nét quan trọng; không chỉ kiểm xem mặt bằng còn đủ đối tượng.
Nét đứt thành nét liền khi xuất PDF cần kiểm điều gì?
Kiểm tỷ lệ kiểu nét, mức dày đặc và thiết lập trong model/layout. Quan sát PDF ở kích thước đọc, rồi dùng vùng test trên giấy. Không thay tất cả nét đứt bằng nét liền để che lỗi vì có thể làm mất ý nghĩa ký hiệu.
Ký hiệu cao độ đọc được trên màn hình nhưng mờ trên giấy xử lý ra sao?
Chọn vùng có ký hiệu, dấu và số nhỏ để test đúng khổ. Đối chiếu cỡ chữ, nét và tương phản trong file nguồn. Nếu cần chỉnh, sửa có chọn lọc và duyệt lại; không tăng kích thước cả tờ bằng thao tác phóng khi phải giữ tỷ lệ.
Xuất cả bản vẽ thành JPEG có ảnh hưởng đường nét không?
Có thể làm nét và chữ mất độ sắc khi độ phân giải không đủ ở khổ cuối. Ưu tiên quy trình PDF giữ đối tượng vector phù hợp; nếu buộc dùng ảnh, kiểm vùng ký hiệu nhỏ và nét mảnh ở kích thước sẽ in.
Xref chưa tải có thể bị bỏ sót khi chỉ xem khung tên không?
Có. Khung tên còn đủ không chứng minh nền hoặc chi tiết tham chiếu đã xuất. Đối chiếu danh sách xref và các vùng đặc trưng trên Plot Preview/PDF, nhất là nền tổng mặt bằng, lưới trục và các chi tiết liên kết.
Layer không plot nên được rà trước xuất ở những vùng nào?
Kiểm lớp chứa kích thước, chú thích, ký hiệu và các chi tiết bắt buộc. Một lớp hiện trên màn hình nhưng không plot có thể làm PDF thiếu thông tin. Dùng bản PDF cuối để kiểm, không chỉ xem file CAD đang bật toàn bộ lớp.
Vì sao phải xem Plot Preview trước khi gửi bản kiến trúc?
Preview giúp phát hiện vùng plot sai, hướng trang lệch hoặc đối tượng sát mép bị cắt. Sau bước này vẫn cần mở PDF đã xuất vì bản giao cho nhà in là PDF, không phải cửa sổ preview trong CAD.
Khung tên nằm sát mép nhưng không muốn thu nhỏ tờ thì làm gì?
Xác nhận vùng in khả dụng và khổ giấy có thể đáp ứng. Nếu phải chỉnh bố cục, sửa trong layout và kiểm lại tỷ lệ vùng bản vẽ. Không tự bật Fit để cứu khung tên mà bỏ qua yêu cầu kích thước kỹ thuật.
Thước tỷ lệ đồ họa có thay được bước đo kích thước không?
Nó hỗ trợ đọc tỷ lệ nhưng phải được kiểm cùng nội dung bản vẽ. Nếu thước và bản vẽ không cùng cách thu/phóng, chúng có thể không tương ứng. Dùng đoạn kích thước biết trước để xác nhận tờ test khi tỷ lệ là tiêu chí bắt buộc.
Một chi tiết phóng lớn đặt trong tờ mặt bằng cần nhận diện ra sao?
Ghi rõ tên và tỷ lệ của chi tiết riêng, tránh để người đọc áp tỷ lệ chung của mặt bằng. Kiểm đoạn mẫu của cả vùng mặt bằng và vùng chi tiết, đồng thời đối chiếu dẫn chiếu tới vị trí gốc.
Trộn tờ đúng tỷ lệ với tờ phối cảnh tự do nên bàn giao thế nào?
Lập danh sách mã tờ, khổ và yêu cầu tỷ lệ cho từng nhóm. Tờ phối cảnh ưu tiên bố cục không được dùng để suy ra thiết lập của tờ kỹ thuật; thông tin đặt in phải phân biệt những tờ cấm tự thu/phóng.
Gấp bản vẽ kiến trúc cần tránh làm che phần nào?
Đối chiếu vị trí khung tên, chú giải và các vùng cần tra cứu theo cách nộp hồ sơ. Duyệt một tờ gấp thử khi có yêu cầu riêng; không chọn nếp gấp chỉ dựa vào việc tờ giấy vừa bìa chứa.
In đen trắng sơ đồ phân khu cần kiểm ngoài đường nét gì?
Kiểm chú giải vốn dùng màu, các mảng hatch và nhãn khu vực. Nếu nhóm bị hòa vào nhau, chỉnh cách phân biệt trong file nguồn và duyệt bản đen trắng; không mặc định chuyển màu là giữ đủ thông tin.
Tờ tổng mặt bằng và tờ chi tiết khác phiên bản có nguy cơ gì?
Có thể làm trục, vị trí hoặc mã chi tiết không tương ứng. Trước in, đối chiếu mã phiên bản và các dẫn chiếu giữa tờ; chốt một bộ thống nhất thay vì ghép những file mới nhất theo ngày lưu riêng lẻ.
Đường kích thước trong PDF có thể được dùng để tự đo mọi vùng không?
Không nên suy rộng nếu chưa kiểm đơn vị và tỷ lệ của vùng cần đo. Với hồ sơ nhiều viewport, phép đo ở một vùng có thể không áp dụng cho vùng khác. Ghi rõ vùng và dùng bản test khi cần nghiệm thu kích thước trên giấy.
Khi tờ test sai nét có cần in lại toàn bộ hồ sơ để kiểm không?
Trước hết khoanh vùng nhóm nét bị sai và các tờ cùng cấu hình xuất. Test lại vùng đại diện sau chỉnh để kiểm nguyên nhân đã được xử lý; phạm vi in lại chỉ chốt khi xác định những tờ thực sự bị ảnh hưởng.
Điều gì nên ghi trên phiếu duyệt tỷ lệ để nhà in không tự suy đoán?
Ghi mã tờ, file cuối, khổ, tỷ lệ từng vùng cần giữ, vị trí đoạn kiểm và yêu cầu không tự thu/phóng. Kèm tờ test đã chấp nhận nếu có. Phiếu là căn cứ phối hợp, không thay trách nhiệm duyệt chuyên môn của người làm đồ án.


Nhà in Phát chuyên cung cấp dịch vụ in đồ án kiến trúc chất lượng cao với giá cả phải chăng.