CHỌN CẤU HÌNH KIM GIỮA
Catalogue kim giữa hợp với cuốn nào?
Catalogue kim giữa là các tờ in gấp đôi, lồng vào nhau rồi bấm hai ghim qua nếp gấp giữa. Cuốn mỏng, nhẹ, mở gần phẳng ở trang giữa và có chi phí đóng thấp nhất trong ba kiểu đóng thường gặp. Tổng số trang, kể cả bìa, phải chia hết cho 4; với ruột 80–100 gsm, cuốn thường khép gọn tới khoảng 48–64 trang. Cuốn dày hơn hoặc cần gáy in tên thì so với In Catalogue gáy keo hoặc lò xo.
| Nhu cầu | Chọn | Chốt trước khi in |
|---|---|---|
| Cuốn 8–32 trang phát tại sự kiện, gửi kèm đơn hàng | Kim giữa | Tổng trang bội số 4, bìa cùng hay khác giấy ruột |
| Lookbook có ảnh trải qua trang giữa | Kim giữa | Chủ thể ảnh tránh nếp gấp và vị trí ghim |
| Cuốn từ khoảng 64 trang hoặc cần gáy vuông in tên | In Catalogue gáy keo | Bề rộng gáy theo số tờ và giấy |
| Bảng giá, tài liệu tra cứu mở trên bàn | Lò xo | Dải lỗ 8–10 mm ở mép đóng |
Thông số in catalogue kim giữa
| Hạng mục | Quy cách | Ghi chú khi đặt |
|---|---|---|
| Khổ thành phẩm | A4 (210 × 297 mm); A5 (148 × 210 mm) hoặc khổ riêng | Khổ riêng hỏi trước khi dàn trang |
| Số trang | Bội số của 4: 8, 12, 16, 20… | Ghi rõ bìa nằm trong tổng trang hay tính riêng |
| Giấy | Ruột Couche 100–150 gsm cho trang ảnh, Fort 80–100 gsm cho trang chữ; bìa dày hơn ruột | Giấy càng dày, cuốn càng phồng ở nếp gấp |
| Gia công | Cán màng 1 mặt bìa, đóng kim giữa, cắt thành phẩm | Ép kim, UV bìa hẹn lịch riêng |
| File | PDF trang đơn theo thứ tự đọc, tràn lề 2 mm mỗi cạnh, CMYK, nhúng font | Không cần bình trang |
| Tiến độ | Đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file | Đơn nhiều cuốn hoặc có gia công bìa hẹn giờ cụ thể |
Giá theo số lượng và quy cách: khổ, tổng trang, giấy bìa và ruột, gia công, số cuốn. Gửi PDF cùng các thông số này để nhận báo giá; Nhà in Phát kiểm file và tư vấn miễn phí.

Cách đếm trang cho cuốn kim giữa
Một tờ gấp đôi cho 4 trang đọc. Catalogue A4 16 trang gồm 4 tờ khổ A3 gấp lồng nhau; nếu bìa cùng giấy ruột, bìa là tờ ngoài cùng và nằm trong 16 trang đó. Nếu bìa dùng giấy dày hơn, ghi “bìa 4 trang + ruột 12 trang”, tức 1 tờ bìa và 3 tờ ruột. Nội dung 14 trang phải thành 12 hoặc 16: thêm, bớt nội dung hoặc để trang trắng có chủ ý và đánh dấu trong file.
Bài Catalogue bao nhiêu trang là hợp lý? Cách tính trang khi đóng cuốn có thêm ví dụ sơ đồ trang. Khi dàn trang, gửi PDF trang đơn theo thứ tự đọc; tự ghép cặp trang để in dễ đảo mặt trong và mặt ngoài.

Creep: vì sao lề ngoài trang giữa hẹp lại
Khi lồng nhiều tờ, tờ càng nằm trong càng bị đẩy ra mép ngoài. Ví dụ cuốn 40 trang Couche 150 gsm có 10 tờ, mỗi tờ dày khoảng 0,12 mm: tờ giữa nhô ra khoảng 1 mm so với tờ ngoài. Sau khi xén ba mặt, lề ngoài của các trang giữa hẹp hơn trang bìa chừng đó. Phần bù creep được tính lúc bình trang theo giấy và số tờ thực tế; bạn chỉ cần giữ số trang, chú thích và khung viền cách mép xén 3–5 mm.
Ứng dụng phù hợp và giới hạn
- Catalogue chiến dịch, brochure nhiều trang: phát tay tại sự kiện, gửi kèm đơn hàng; cuốn A5 16 trang đủ nhẹ để bỏ vào phong bì C5 (162 × 229 mm).
- Tạp chí nội bộ, bản tin: ít trang, phát hành định kỳ.
- Tài liệu hội thảo, tập bài giảng mỏng: đọc tuần tự, không cần tra cứu lâu.
- Lookbook, catalogue ảnh mỏng: cặp trang chính giữa nằm trên cùng một tờ nên ảnh trải liền mạch.
Giới hạn: kim giữa không có gáy để in tên cuốn; số tờ tăng thì nếp gấp phồng, cuốn khó khép và ghim chịu lực lớn. Sách dày, catalogue xếp kệ chọn gáy keo; tài liệu tra cứu trên bàn chọn catalogue gáy lò xo.

Quy trình đặt in catalogue kim giữa
- Gửi PDF và quy cách: khổ, tổng trang, giấy bìa và ruột, số cuốn, ngày cần nhận.
- Kiểm file: số trang theo bội số 4, tràn lề, font, độ nét ảnh và vùng quanh nếp gấp.
- Duyệt mẫu khi cần: cuốn nhiều trang hoặc màu thương hiệu quan trọng duyệt một cuốn mẫu đúng giấy, có tính phí như đơn 1 cuốn.
- In, gấp, lồng, bấm kim, xén ba mặt: kiểm thứ tự trang, ghim thẳng hàng trên nếp gấp, mép xén không phạm chữ.
- Bàn giao: nhận tại cơ sở hoặc hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển. Đặt cọc 70% khi chốt đơn; không công nợ.

Nhà in Phát có hơn 15 năm kinh nghiệm in ấn tại TP.HCM và đã phục vụ hàng ngàn thương hiệu. Chưa chắc cuốn của mình hợp kim giữa, gửi PDF để được kiểm số trang và tư vấn kiểu đóng trước khi báo giá.
In Catalogue Đóng Kim Giữa Chuyên Nghiệp
Catalogue đóng kim giữa phù hợp ấn phẩm mỏng, mở gần phẳng ở trang giữa và có chi phí gia công thấp. File cần được kiểm tra tổng số trang, lề xén và vùng sát gáy.
- Khổ A4, A5 hoặc kích thước riêng.
- Bìa và ruột có thể dùng giấy khác nhau.
- Cán màng bìa, đóng kim và xén thành phẩm.

CHUẨN BỊ FILE VÀ GIẤY
Chuẩn bị file, giấy và bìa cho cuốn kim giữa
Tràn lề, vùng an toàn và trang giữa
PDF đúng khổ thành phẩm, thêm 2 mm tràn lề mỗi cạnh; chữ, logo, mã QR lùi vào trong 3–5 mm từ mép xén và cách nếp gấp giữa từ 5 mm. Ảnh khoảng 300 ppi ở kích thước in: trang A5 tràn lề (152 × 214 mm) cần khoảng 1795 × 2528 px. Ảnh trải qua cặp trang giữa nên đặt mắt người, chữ nhỏ và mã sản phẩm lệch khỏi nếp gấp, vì hai ghim nằm ngay trên đường đó. Hướng dẫn chi tiết tại hướng dẫn chuẩn bị PDF catalogue: bleed, vùng an toàn, font.
Màu và chữ đen
File CMYK, nhúng font tiếng Việt. Chữ đen cỡ nhỏ dùng K100 đơn và để overprint để không hở viền; đối tượng trắng không để overprint. Nền đen lớn ở bìa dùng đen tổng hợp có giới hạn tổng lượng mực. Màu thương hiệu nhạy cảm duyệt trên bản in đúng giấy, không theo màn hình điện thoại.
Giấy ruột và bìa
Ruột Couche 100–150 gsm cho trang nhiều ảnh; Fort 80–100 gsm cho trang chữ cần ghi chú. Bìa cùng giấy ruột (self-cover) gọn và rẻ hơn, hợp cuốn phát một lần; bìa riêng 200–250 gsm cán màng một mặt giữ dáng cuốn tốt hơn. Bìa từ 300 gsm cần cấn trước khi gấp để nếp không nứt. Cán mờ giảm phản xạ dưới đèn; cán bóng làm màu rực và dễ lau. Nền màu đậm chạy qua gáy nên xem trên cuốn mẫu đã gấp, vì nếp gấp có thể lộ vệt sáng.
So sánh ba kiểu đóng cuốn
| Kiểu đóng | Số trang thường gọn | Khi mở | Gáy | Hợp với |
|---|---|---|---|---|
| Kim giữa | 8–64 trang, bội số 4 | Gần phẳng ở trang giữa | Không có gáy in tên | Brochure, catalogue chiến dịch, bản tin |
| Gáy keo | Từ khoảng 60 trang | Phần sát gáy cong vào | Gáy vuông in được tên | Catalogue dày, hồ sơ năng lực |
| Lò xo | Linh hoạt theo độ dày | Phẳng, lật 360° | Vòng kẽm hoặc nhựa | Sổ mẫu, bảng giá, tài liệu thao tác |
So sánh chi tiết tại bài In Catalogue đóng kim giữa – đóng gáy keo – đóng lò xo?.
Checklist duyệt in catalogue kim giữa trước khi sản xuất
Đường dẫn hữu ích: dịch vụ in catalogue, in nhanh theo nhu cầu, Thế Giới In Nhanh và In Standee.
Kiểm cuốn mẫu và lô thành phẩm
Mở cuốn mẫu ở trang giữa: hai ghim thẳng hàng trên nếp gấp, đầu ghim ép gọn, không vướng tay khi lật. Khép cuốn trên bàn để xem độ phồng; so lề ngoài của trang 2 và trang giữa để thấy creep đã được bù chưa. Lật từ đầu đến cuối để kiểm thứ tự trang và trang trắng đúng chỗ.
| Dấu hiệu khi xem mẫu | Nguyên nhân thường gặp | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Số trang bên trong gần mép hơn trang ngoài | Creep chưa bù đủ hoặc chữ đặt quá sát mép | Lùi chữ vào 3–5 mm, chỉ rõ cặp trang khi báo |
| Ảnh trải lệch ở nếp gấp | Chủ thể đặt đúng đường gấp | Dời bố cục hoặc chuyển ảnh về một trang |
| Cuốn không khép sát | Giấy ruột quá dày so với số tờ | Giảm định lượng ruột hoặc chuyển gáy keo |
| Nếp bìa nứt vệt trắng | Bìa dày không cấn, nền đậm qua gáy | Cấn trước khi gấp, cán màng bìa |
Với đơn nhiều cuốn, rút kiểm vài cuốn ở đầu, giữa và cuối lô; đối chiếu số lượng theo phiên bản. Thấy lỗi lặp lại thì báo toàn bộ phạm vi, giữ nguyên cuốn và mã đơn. Nhà in Phát không lưu file sau đơn hàng; để tái bản, giữ file cuối, tên giấy, tổng trang và cuốn mẫu đã duyệt. Nếu cần gáy vuông cho cuốn đủ dày, xem catalogue gáy keo; muốn tính lại số trang trước khi đổi kiểu đóng, xem cách tính số trang catalogue.
FAQ In Catalogue kim giữa
Giải đáp theo quy cách đóng kim giữa và tình huống sử dụng.
Catalogue kim giữa phát kèm vé sự kiện nên chốt số trang và bìa thế nào?
Gửi kích thước bộ tài liệu và nội dung cuối để kiểm cuốn có vừa cách phát, cầm và đóng gói hay không. Tổng trang cần theo cấu trúc gấp, còn bìa được chọn theo cách dùng. Không tự thêm trang quảng cáo chỉ để đủ bội số; trang trắng có chủ ý phải được duyệt.
File 18 trang đã xong, muốn đóng kim giữa thì cần quyết định gì trước khi báo?
18 không chia hết cho 4, nên cuốn phải thành 16 hoặc 20 trang: bớt 2 trang, thêm 2 trang nội dung hoặc 2 trang trắng có chủ ý. Nếu bìa giấy dày tính riêng 4 trang, ruột 14 trang cũng phải tròn thành 12 hoặc 16. Chọn phương án rồi gửi lại PDF đầy đủ.
Catalogue kim giữa có bìa riêng nhưng ruột chưa chốt phải giữ file nào để sửa?
Giữ file nguồn bìa và ruột, đồng thời ghi rõ số trang dự kiến của từng phần. Thay số tờ ruột có thể làm thay độ phình và bố cục gần mép. PDF hiện tại chỉ là bản trao đổi; khóa cả bộ cuối sau khi cấu hình và nội dung đã được xác nhận.
Trang trung tâm kim giữa có hình sản phẩm liền cần kiểm ở điểm nào?
Kiểm vị trí nếp gấp, kim, chi tiết chính và chữ ở đúng khổ. Trang trung tâm thuận lợi cho hình qua hai trang nhưng không phải mọi vị trí trên đó đều không bị ảnh hưởng. Duyệt mẫu kết cấu nếu ảnh chủ đạo rơi sát đường gấp hoặc vị trí kim.
Đơn kim giữa có hai phiên bản thay riêng bốn trang ruột thì gửi sao cho đúng?
Gửi PDF đầy đủ của từng bản và bảng những trang thay đổi, không chỉ gửi bốn trang rời khi chưa thống nhất cách ghép. Ghi mã phiên bản và số cuốn. Nhân viên kiểm bình trang riêng theo bộ cuối, tránh nhầm một mặt của bản này với mặt tương ứng của bản khác.
Cuốn kim giữa có giấy ruột dày cần thử gì trước khi chọn chỉ theo tổng trang?
Mức thường gặp: ruột 80–100 gsm khép gọn tới khoảng 48–64 trang; ruột Couche 150 gsm thấp hơn, khoảng 32–40 trang. Gần ngưỡng đó, làm một cuốn mẫu đúng giấy để xem độ phồng ở nếp gấp và mép xén trước khi in cả lô.
Ảnh chạm mép ngoài trong cuốn kim giữa có cần để vùng dự phòng cho creep?
Có. Cuốn 10 tờ Couche dày khoảng 0,12 mm mỗi tờ thì tờ giữa nhô ra khoảng 1 mm, nên sau khi xén lề ngoài trang giữa hẹp hơn. Ảnh tràn vẫn kéo ra 2 mm; chữ và số trang cách mép xén 3–5 mm. Phần bù creep được tính khi bình trang.
Tôi đã bình trang kim giữa bằng phần mềm, có nên gửi luôn file đó để sản xuất?
Gửi thêm PDF trang đơn theo thứ tự và ghi rõ file nào là bản tham khảo. File tự bình có thể không phù hợp khổ giấy, dấu kiểm hoặc cấu hình gia công của đơn. Chỉ dùng bản đã bình để in khi kỹ thuật xác nhận, tránh bình lại hai lần hoặc sai thứ tự mặt.
Bìa kim giữa nền đậm có đường gấp cần duyệt mẫu phẳng hay đã gấp?
Nên kiểm cả màu trên bản phẳng và ngoại quan sau gấp trên vật liệu tương ứng. Nếp gấp có thể bộc lộ vấn đề mà bản PDF hoặc mẫu phẳng không thể hiện. Ghi yêu cầu kiểm bìa ở bước duyệt, không coi ảnh nền đậm trên màn hình là bằng chứng nếp thành phẩm sẽ giống nhau.
Có thể cho số điện thoại nằm đúng giữa nếp gấp kim giữa không?
Không nên đặt thông tin bắt buộc đọc rõ đúng đường gấp chỉ để cân bố cục. Dời sang một trang hoặc vùng an toàn phù hợp và kiểm trên mẫu. Nếu thiết kế buộc chạy qua giữa, nêu rủi ro để người duyệt quyết định; không hứa không mất chữ chỉ vì cuốn có thể mở.
Catalogue kim giữa dùng với folder hồ sơ có cần cùng khổ với folder không?
Không nhất thiết cùng khổ danh nghĩa. Cần kích thước chứa thực và độ dày của cả bộ để cuốn ra vào dễ, không kẹt nếp hoặc cọ bìa. Gửi mẫu folder hoặc số đo để tư vấn. Không lấy kích thước tờ giấy làm chắc chắn kích thước thành phẩm đóng bộ.
Đặt kim giữa theo mẫu cũ nhưng bỏ vài trang có phải duyệt lại không?
Có. Bỏ trang làm thay tay gấp, vị trí trang trung tâm và thứ tự nội dung, dù khổ không đổi. Gửi PDF đầy đủ của bản mới, kiểm bìa/ruột và chốt cách xử lý trang còn dư. Không dùng file bình cũ rồi xóa một vài trang trong đó để sản xuất.
Cuốn kim giữa có QR sát mép cần nghiệm thu bằng bản nào?
Kiểm QR trên bản đúng khổ và mẫu đã xén nếu mép là ràng buộc chính. Mã cần còn đủ vùng trống và đọc được trong cách cầm thực. Không nghiệm thu chỉ bằng việc quét mã trên PDF phóng lớn; dịch vị trí khi cần thay vì chấp nhận mã bị xén gần viền.
Nếu muốn kim không nằm trên phần ảnh chủ đạo, có thể tự vẽ vị trí kim không?
Hai ghim luôn nằm trên nếp gấp giữa, chỉ dời được dọc theo nếp chứ không sang ngang. Vì vậy hãy dời chủ thể ảnh, chữ và mã khỏi nếp gấp từ 5 mm trở lên thay vì vẽ vị trí ghim mới.
Catalogue kim giữa có trang gập phụ có được tính như trang ruột thường không?
Không mặc định. Trang gập phụ có khổ mở và cách liên kết khác, cần sơ đồ riêng và kiểm khả năng gia công. Ghi rõ vị trí, giấy và kích thước ở bước báo giá. Không gửi thêm sau khi duyệt mà yêu cầu giữ nguyên cấu hình cuốn thông thường.
Bản kim giữa đã có trang trắng cuối thì nhà in tự bỏ trang đó không?
Không nên tự bỏ nếu trang trắng thuộc bộ PDF đã duyệt hoặc phục vụ cấu trúc cuốn. Người đặt cần đánh dấu trang trắng có chủ ý và thống nhất tổng trang. Nếu không rõ, hỏi lại trước sản xuất; không thay nội dung cuối chỉ để cuốn trông ngắn hơn.
Catalogue kim giữa để phát một lần có thể chọn ruột và bìa cùng giấy không?
Được. Bìa cùng giấy ruột đơn giản và rẻ hơn, hợp cuốn 8–24 trang phát một lần, ví dụ toàn bộ Couche 150 gsm. Bìa riêng 200–250 gsm cán màng giữ dáng tốt hơn khi cuốn được cầm lâu hoặc gửi qua book ship.
Cuốn kim giữa nhiều tờ không khép sát ngay sau gấp có cần đổi kiểu đóng không?
Cần kiểm mức độ phình theo vật liệu, số tờ và yêu cầu sử dụng trước khi kết luận. Nếu kết cấu không đáp ứng dáng cuốn mong muốn, có thể xem gáy keo hoặc phương án khác. Không ghì hoặc ép thành phẩm tùy ý để che vấn đề thay vì thống nhất cấu hình phù hợp.
Báo giá kim giữa ghi trang bìa riêng khác gì tổng số trang của PDF?
Báo giá cần chỉ rõ bìa và ruột để đối chiếu mặt in và vật liệu, trong khi PDF có thể chứa toàn bộ bộ trang. Hãy thống nhất cách gọi bằng sơ đồ trang thay vì dùng một con số không giải thích. Nhân viên kiểm tổng trang gia công trên bộ cuối đã duyệt.
Tôi muốn các trang trong kim giữa có lề ngoài bằng nhau thì phải tự bù creep không?
Không cần. Gửi PDF trang đơn với lề ngoài như nhau; phần bù creep tính khi bình trang theo giấy và số tờ. Bạn chỉ cần giữ chữ cách mép xén 3–5 mm để trang giữa vẫn còn đủ lề.
Mẫu kim giữa chỉ in một tờ có đủ duyệt thứ tự toàn cuốn không?
Không. Một tờ có thể hỗ trợ kiểm màu hoặc giấy, nhưng không xác nhận thứ tự, trang trung tâm và kết cấu toàn cuốn. Nếu cần nghiệm thu các phần đó, thống nhất mẫu đầy đủ hoặc cách duyệt phù hợp. Ghi rõ mục đích mẫu để không hiểu kiểm màu là đã duyệt mọi công đoạn.
Catalogue kim giữa kèm phiếu đặt hàng rời có được tự chèn vào cuốn không?
Cần ghi thành phần phiếu, số lượng và cách đóng bộ riêng. Không mặc định nhà in thêm phiếu nếu nó không nằm trong yêu cầu. Phiếu rời không làm thay PDF ruột nhưng ảnh hưởng kiểm và đóng gói; chốt mã bộ để tránh cuốn hoàn tất mà thiếu giấy kèm.
Có thể tăng số trang kim giữa sau khi đã duyệt mẫu mà không đổi bìa không?
Phải kiểm lại cấu hình dù hình bìa không đổi. Thêm tờ có thể làm độ phình và vùng xén khác mẫu, ảnh hưởng bố cục bìa và ruột. Gửi bộ PDF mới, xác nhận khả năng kim giữa và duyệt lại phần cần thiết trước khi coi mẫu trước là chuẩn cho lô mới.
Kim giữa dùng ảnh nằm ngang xen trang dọc cần kiểm thứ tự và hướng trang ra sao?
Duyệt theo thao tác đọc của cuốn hoàn chỉnh, không chỉ theo thumbnail PDF. Mỗi trang ngang cần hướng xoay thống nhất nếu nội dung yêu cầu; mặt trước và sau không được vô tình đảo. Ghi quy tắc đọc trong bộ duyệt để nhân viên đối chiếu trước khi bình và gấp.
Nếu chân kim làm vướng trang khi lật có nên tự bẻ lại không?
Không nên tự sửa trước khi đối chiếu. Giữ cuốn, mã đơn và ảnh vị trí để nhân viên kiểm kết cấu, ngoại quan và thao tác trong điều kiện dùng bình thường. Chốt tiêu chí trên mẫu trước sản xuất giúp xác định vấn đề mà không dựa vào cảm giác của một lần lật riêng lẻ.
Đơn kim giữa giao cho nhiều điểm cần ghi bảng kê nào để kiểm đủ cuốn?
Ghi địa chỉ nhận, người nhận, mã phiên bản và số cuốn từng điểm; tổng phải khớp đơn được xác nhận. Các cuốn nhìn giống nhau nhưng khác nội dung cần nhãn nhóm. Không xem hoàn thành một điểm giao là hoàn thành toàn bộ đơn; phí và lịch vận chuyển được xác nhận riêng.
Có thể chọn kim giữa rồi yêu cầu nhìn giống sống gáy vuông của gáy keo không?
Không coi hai kết cấu là tương đương về hình thức. Kim giữa theo tay gấp, còn gáy keo có sống gáy theo tập ruột và bìa. Nếu sống gáy vuông là yêu cầu nhận diện, trao đổi lại sản phẩm trước khi đặt; không chỉnh ảnh minh họa để tạo kỳ vọng khác cấu tạo thực.
Dữ liệu nào giúp chốt catalogue kim giữa đúng ngay từ yêu cầu đầu?
Gửi PDF đầy đủ theo thứ tự, khổ, số trang bìa/ruột, số cuốn, giấy đã chọn nếu có, gia công bìa và thời điểm dùng. Ghi riêng yêu cầu ảnh trung tâm, trang trắng có chủ ý hoặc giấy kèm. Kỹ thuật xác nhận tay gấp và mẫu trước khi áp cấu hình cho lô.











