In Namecard là gì?

Namecard (name card, cardvisit, danh thiếp) là tấm thẻ giấy nhỏ ghi tên, vai trò và cách liên hệ, dùng để trao tay khi gặp trực tiếp. Tại Nhà in Phát, namecard có khổ thành phẩm chuẩn 88 × 53 mm, thường in trên Couche 300–350 gsm, một hoặc hai mặt, cán màng mờ hoặc bóng. Muốn in đúng ngay lần đầu, bạn cần chốt bốn thứ: nội dung, khổ file có tràn lề, loại giấy và gia công, số lượng theo từng tên.
Namecard, cardvisit hay danh thiếp: cùng một sản phẩm
Ba tên gọi chỉ cùng một thứ. “Namecard” và “cardvisit” là cách gọi mượn từ tiếng Anh và tiếng Pháp, “danh thiếp” là từ Hán Việt. Khi đặt in, tên gọi không quyết định giá hay quy cách. Thứ quyết định là khổ, giấy, số mặt in, gia công và số lượng.
Một tấm namecard làm hai việc: cho người nhận biết họ vừa gặp ai, và cho họ một kênh để liên hệ lại. Diện tích chỉ khoảng 46 cm², nên mọi thứ không phục vụ hai việc đó đều đang lấy chỗ của tên và số điện thoại. Danh sách dịch vụ dài, bảng giá hay khẩu hiệu nên để ở catalogue, website hoặc hồ sơ năng lực.
Khổ chuẩn và cách dựng file
Nhà in Phát cắt namecard theo khổ 88 × 53 mm. Khi dựng file, cộng tràn lề 2 mm mỗi cạnh, nên khổ file là 92 × 57 mm. Chữ, logo và số điện thoại đặt cách đường cắt ít nhất 3 mm, tức nằm gọn trong vùng 82 × 47 mm. Nền màu, ảnh hay họa tiết chạy ra mép thì kéo phủ hết phần tràn lề để sau khi xén không lộ viền trắng.
- Khổ ngang 88 × 53 mm: phổ biến nhất, hợp đa số bố cục chữ ngang.
- Khổ đứng 53 × 88 mm: cùng kích thước, xoay dọc; hợp thiết kế có logo lớn phía trên.
- Khổ vuông 50 × 50 hoặc 55 × 55 mm: dễ nhận ra nhưng khó cất chung với thẻ khác.
- Khổ ở nơi khác: 90 × 54 hoặc 90 × 55 mm ở nhiều nhà in trong nước, 85 × 55 mm ở châu Âu, 3,5 × 2 inch (khoảng 89 × 51 mm) ở Mỹ. File dựng theo các khổ này cần kiểm lại vùng chữ trước khi in theo khổ 88 × 53 mm.
File hai mặt xuất thành PDF hai trang: trang 1 là mặt trước, trang 2 là mặt sau, cùng chiều. Nhúng font hoặc chuyển chữ thành đường nét trên bản sao, vì tên riêng và dấu tiếng Việt là chỗ hay lỗi nhất khi máy khác thiếu font. Chi tiết về ba vùng kỹ thuật có trong bài kích thước và lề file danh thiếp.

Thông tin nên có và cỡ chữ đọc được
Sắp nội dung theo thứ tự người nhận cần biết:
- Tên người (hoặc tên bộ phận nếu là thẻ dùng chung), viết đúng dấu.
- Chức danh mà đối tác hiểu được, không dùng tên viết tắt nội bộ.
- Logo và tên đơn vị lấy từ file gốc được phép dùng.
- Một kênh liên hệ chính (điện thoại hoặc email), rồi tới kênh phụ.
- Địa chỉ khi người nhận có lý do tới đó; website hoặc QR khi cần dẫn tới thông tin dài hơn.
Namecard được đọc ở khoảng cách 30–40 cm. Tên người thường đặt cỡ 9–12 pt, các dòng thông tin 7–8 pt. Dưới 6 pt, nhất là font chữ mảnh, số điện thoại bắt đầu khó đọc với người lớn tuổi. Nét kẻ, viền mảnh nên dày từ 0,25 pt trở lên để không bị đứt khi in. Nếu không đủ chỗ, bỏ bớt dòng thay vì thu nhỏ tất cả chữ.
Thẻ song ngữ thường đặt tiếng Việt một mặt, tiếng Anh một mặt, giữ nguyên vị trí tên, logo và kênh liên hệ để hai mặt khớp nhau khi lật. Cách dịch chức danh và trình bày tên có trong bài danh thiếp song ngữ Việt – Anh.
Màu nền, chữ đen và mã QR
Chữ đen cỡ nhỏ nên để K100 (chỉ một kênh đen) để nét chữ không bị lệch màu. Nền đen phủ cả mặt thẻ thì dùng đen tổng hợp có kiểm soát để màu sâu hơn; trong ngành, ví dụ hay gặp là C60 M40 Y40 K100. Logo có màu thương hiệu nên gửi kèm mã màu. Màn hình hiển thị bằng ánh sáng, bản in phản xạ ánh sáng qua mực, nên xanh dương và cam rực trên giấy thường dịu hơn màn hình.
Mã QR trên namecard nên có cạnh tối thiểu 15 mm, chừa vùng trắng quanh mã, nền sáng, mã tối. Ví dụ: mã 25 × 25 ô in ở cạnh 15 mm thì mỗi ô rộng 0,6 mm; vùng trắng chuẩn 4 ô tương đương khoảng 2,4 mm mỗi phía. Đường dẫn càng dài, mã càng dày ô và càng cần in lớn. Bố cục mã cạnh thông tin liên hệ có trong bài bố cục QR và thông tin liên hệ.
按用途选择纸张和后道加工
Couche 300–350 gsm cán màng là cấu hình phổ biến vì màu in tươi, thẻ cứng tay và ít trầy. Các lựa chọn khác phù hợp khi bạn cần cảm giác cầm hoặc khả năng viết tay khác đi.
| 您需要 | Giấy / gia công nên chọn | 注意事项 |
|---|---|---|
| Màu ảnh, logo tươi, dùng hằng ngày | Couche 300–350 gsm, cán màng mờ hoặc bóng hai mặt | Cán màng giảm trầy, không làm thẻ giấy chống nước hoàn toàn |
| Viết tay lên thẻ (hẹn lịch, ghi chú) | Bristol hoặc giấy không cán ở mặt cần viết | Mặt đã cán màng khó ăn mực bút bi |
| Thẻ cứng, mặt sau nhám | Ivory: tráng phủ một mặt, mặt kia nhám | Mặt nhám in ảnh không tươi bằng mặt tráng phủ |
| Phong cách mộc, thủ công | 棕色牛皮纸 | Không có nền trắng nên màu in trầm; chữ nên đậm |
| Vân giấy, màu nền, ánh kim | giấy mỹ thuật | Xem mẫu giấy thật; thời gian hẹn theo loại giấy |
| Điểm nhấn logo | Ép kim | Mỗi gia công cần một lớp file riêng, vector, một màu đặc |
Ép kim là ép lá nhũ vàng, bạc bằng khuôn nhiệt; bề mặt phẳng, không nổi. Logo ép kim thường đặt trên nền cán màng mờ để ánh nhũ tách rõ khỏi nền khi nghiêng thẻ. So sánh đầy đủ có trong bài chọn gia công danh thiếp; khác biệt giữa các loại giấy có trong bài chọn giấy danh thiếp.

In kỹ thuật số hay offset, đặt bao nhiêu tấm
In kỹ thuật số không cần làm bản kẽm, nên hợp với đơn ít tấm, đơn nhiều tên, hoặc khi thông tin còn có thể thay đổi. Namecard được dàn trên tờ in khổ khoảng 32,5 × 48 cm; với file 92 × 57 mm, một tờ thường chứa khoảng 20 tấm. Vì vậy 100 tấm chỉ chiếm khoảng 5 tờ in, và một công ty 10 người, mỗi người 100 tấm, vẫn in trong cùng một đơn với 10 file riêng.
In offset phải làm bản kẽm cho từng mẫu, chi phí chế bản cố định nên chỉ kinh tế khi một mẫu in số lượng lớn. Nhà in Phát có trang in card visit offset cho nhu cầu này. Cách chọn giữa hai phương án có trong bài in danh thiếp kỹ thuật số hay offset.
Số lượng nên theo tốc độ dùng thực tế. Nhân viên mới, người sắp đổi chức danh hoặc doanh nghiệp sắp đổi địa chỉ nên in ít trước rồi bổ sung. Bài chuẩn bị đơn danh thiếp số lượng ít hướng dẫn cách chia đợt. Giá phụ thuộc giấy, số mặt, gia công và số lượng; các yếu tố này được giải thích trong bài giá in danh thiếp phụ thuộc yếu tố nào.
Đặt in namecard tại Nhà in Phát
Gửi qua trang In Name Card hoặc Zalo: file PDF (hoặc AI, CDR kèm font), khổ, số mặt, loại giấy, gia công và số lượng của từng tên. Kiểm file và tư vấn miễn phí; nếu cần thiết kế hoặc chỉnh file, Nhà in Phát báo phương án và chi phí trước khi làm.
- Tiến độ: đơn thường (Couche cán màng, không gia công đặc biệt) khoảng 2 giờ sau khi chốt file. Đơn nhiều, giấy mỹ thuật hoặc ép kim được hẹn lịch cụ thể.
- Thanh toán: đặt cọc 70%.
- Nhận hàng: tại 441/31 Điện Biên Phủ, Phường Thạnh Mỹ Tây hoặc 37A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Sài Gòn, TP.HCM, từ Thứ 2 đến Thứ 7, 7h30–12h và 13h–17h30. Hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.
Nhà in Phát không lưu file của khách sau đơn hàng, nên hãy giữ bản PDF cuối để lần in sau chỉ cần sửa phần thay đổi.
Giải đáp trước khi đặt
Câu hỏi thường gặp về namecard
Khổ file, cỡ chữ, QR, giấy viết tay và thời gian nhận thẻ.
File thiết kế sẵn khổ 90 × 54 mm có in theo khổ 88 × 53 mm được không?
Được, nhưng mỗi chiều dài bị hụt 1 mm mỗi bên và chiều ngắn hụt 0,5 mm mỗi bên. Nếu nền đã tràn lề 2 mm thì mép vẫn đủ màu; cần kiểm lại chữ và logo còn cách đường cắt ít nhất 3 mm. Khi gửi file, ghi rõ khổ muốn nhận để được kiểm trước khi in.
Bristol và Couche cùng 300 gsm, loại nào cứng tay hơn?
Bristol thường cứng và dày tay hơn Couche cùng định lượng, mặt mịn, viết được khi không cán. Couche bề mặt tráng phủ láng hơn nên màu ảnh tươi hơn. Định lượng gsm là khối lượng trên mét vuông, không phải độ dày, nên hai giấy cùng 300 gsm vẫn cho cảm giác cầm khác nhau.
QR trên namecard 88 × 53 mm nên chiếm bao nhiêu chỗ?
Một mã QR cạnh 15–18 mm chiếm khoảng một phần ba chiều cao thẻ, thường đặt ở mặt sau hoặc góc phải mặt trước. Mã 25 × 25 ô in ở 15 mm cho mỗi ô 0,6 mm, đủ cho camera điện thoại đọc ở khoảng 15–20 cm. Đường dẫn dài sinh nhiều ô hơn nên dùng đường dẫn ngắn thay vì phóng mã lớn lấn chỗ thông tin.
Muốn viết tay lên namecard thì chọn giấy nào?
Chọn Bristol hoặc giấy không cán màng ở mặt cần viết. Mặt cán màng bóng hoặc mờ đều làm mực bút bi khó bám và dễ lem. Có thể cán mặt trước để bảo vệ màu, để trống mặt sau cho phần ghi chú.
Cán màng mờ có làm màu in tối đi không?
Cán mờ giảm độ bóng nên màu trông trầm và mịn hơn một chút, nền đen ít bị lóa. Cán bóng giữ màu tươi và rực hơn nhưng dễ thấy dấu vân tay. Cả hai đều giảm trầy mặt in và không làm thẻ giấy chống nước hoàn toàn.
Logo chỉ có ảnh JPG nhỏ thì in namecard có rõ không?
Logo rộng 20 mm trên thẻ cần khoảng 236 pixel chiều ngang ở 300 ppi. Ảnh logo nhỏ hơn mức đó hoặc bị nén nhiều sẽ in ra viền răng cưa. Nên gửi file vector (AI, PDF, EPS); nếu chỉ có ảnh mờ, việc vẽ lại logo là dịch vụ có tính phí và được báo trước khi làm.
Namecard và thẻ nhân viên đeo cổ có dùng chung một file được không?
Không nên. Thẻ đeo thường theo khổ thẻ nhựa 85,6 × 54 mm, có lỗ dây đeo và thường in ảnh chân dung; namecard 88 × 53 mm dùng để trao tay. Hai loại khác khổ, khác vùng an toàn và khác chất liệu, nên cần dựng hai file riêng.
Nền đen toàn mặt thẻ nên đặt màu thế nào?
Nền đen lớn nên dùng đen tổng hợp để màu sâu, ví dụ phổ biến trong ngành là C60 M40 Y40 K100. Chữ nhỏ màu đen đặt K100 đơn; chữ trắng trên nền đen nên từ 7 pt trở lên và dùng font nét đậm vừa để không bị lấp.
Namecard in hai mặt gửi file thế nào để không bị ngược chiều?
Xuất một PDF hai trang: trang 1 mặt trước, trang 2 mặt sau, cùng khổ 92 × 57 mm và cùng chiều. Thẻ ngang được lật theo cạnh dài như lật trang sách; nếu mặt sau thiết kế dọc trong khi mặt trước ngang, ghi rõ trong tin nhắn để kiểm hướng trước khi in.

