建筑、规划类论文印刷:研究文本、地图及调研照片的编排
In luận văn kiến trúc, quy hoạch thường theo cấu hình: ruột A4, trang chữ in trắng đen trên Fort 100–120 gsm, trang bản đồ và ảnh khảo sát in màu trên Couche mờ 150 gsm, bản đồ A3 gấp một nếp đóng chung trong cuốn, bản đồ A1–A0 in tờ rời gấp về A4. Bìa mềm cán màng đóng keo nhiệt, hoặc bìa cứng ép chữ nhũ theo mẫu của trường. Gửi PDF từng trang (không xuất trang đôi) kèm danh sách số trang in màu.

Quy cách in tham chiếu cho luận văn kiến trúc, quy hoạch
Luận văn kiến trúc khác luận văn các ngành khác ở chỗ trang bản đồ, ảnh màu xen trang chữ và có bản đồ lớn hơn khổ sách. Khi khoa không quy định chi tiết, chuẩn bị theo bảng sau. Quy định của trường (khổ, lề, mẫu bìa, màu bìa) luôn được ưu tiên.
| Loại trang | Giấy và cách in | 注意事项 |
|---|---|---|
| Trang chữ, bảng tiêu chí | A4 210 × 297 mm, Fort 100–120 gsm, in trắng đen hai mặt | Lề trái theo quy định trường, nhiều nơi 30–35 mm |
| Trang bản đồ, ảnh khảo sát màu | A4, Couche mờ 150 gsm, in màu theo danh sách số trang PDF | Nhãn bản đồ không nhỏ hơn khoảng 6 pt sau khi thu về A4 |
| Bản đồ A3 đóng chung | In A3 420 × 297 mm, gấp một nếp về A4, phần gáy đóng cùng ruột | Chú giải và mũi tên bắc đặt ở nửa ngoài để đọc khi mở nếp |
| Bản đồ tổng thể A1–A0 | In khổ lớn tờ rời, gấp về A4 bỏ bìa kẹp hoặc cuộn ống | In 100%, đúng tỷ lệ; mã tờ trùng mã trong danh mục cuốn chính |
| 封面 | Bìa mềm Couche hoặc Bristol 250–300 gsm cán màng, đóng keo nhiệt; hoặc bìa cứng carton 2–3 mm ép chữ nhũ | Cuốn nhiều trang Couche nặng hơn; tính gáy sau khi chốt giấy |
Bìa cứng ép chữ nhũ vàng, bạc theo mẫu trường làm tại in bìa mạ vàng đóng cuốn. Bộ board trình bày và bản vẽ khổ lớn cho buổi bảo vệ xem trang In Hồ Sơ Thiết Kế Quy Hoạch; bài này bàn cuốn sách nghiên cứu.
Bản đồ phải đọc được ở khổ A4: chữ, nét, thanh tỷ lệ
Bản đồ dựng cho board A1 thu về trang A4 nhỏ đi khoảng 2,8 lần theo mỗi cạnh (594 mm xuống 210 mm). Nhãn 12 pt trên board còn khoảng 4,3 pt, gần như không đọc được. Vì vậy cuốn luận văn cần một phiên bản bản đồ dàn riêng cho khổ sách, không thu nguyên board.
- Cỡ chữ: nhãn địa danh, tên đường từ 6 pt trở lên ở kích thước in; tiêu đề bản đồ 9–11 pt.
- Nét: ranh giới khu vực nghiên cứu 0,5–0,7 pt, đường giao thông phụ không mảnh hơn 0,25 pt (khoảng 0,09 mm).
- Điểm khảo sát: ký hiệu đường kính từ 2 mm, viền trắng mỏng để tách khỏi nền đậm.
- Thanh tỷ lệ đồ họa thay tỷ lệ số: bản đồ 1:2.000 dựng ở A1 thu về A3 thành 1:4.000, thu về A4 thành khoảng 1:5.660. Con số “1:2.000” ghi trên hình sẽ sai, còn thanh tỷ lệ (vạch 0–50–100 m) co cùng hình nên luôn đúng.
Chữ và nét vector không phụ thuộc độ phân giải; nhãn nhỏ thì tăng cỡ chữ trong file, không raster hóa bản đồ. Xuất PDF giữ vector cho lớp chữ, nét và ranh giới; chỉ ảnh nền (ảnh vệ tinh, bản đồ hiện trạng quét) là raster, cần khoảng 300 ppi ở kích thước trên trang A4.
Bản đồ A3 gấp trong cuốn và trang ngang
Bản đồ A3 (420 × 297 mm) đóng chung trong cuốn A4: nửa trái nằm trong gáy, nửa phải gấp vào. Nếp gấp nên cách mép phải khoảng 207–208 mm, tức cánh gấp vào ngắn hơn khổ trang 2–3 mm, để dao xén ba cạnh không cắt vào nếp. Phần sát gáy mất 30–35 mm cho lề đóng, nên đặt chú giải, mũi tên bắc và thanh tỷ lệ ở nửa ngoài. Giấy Couche 150 gsm nên được cấn nếp trước khi gấp để không nứt mực ở nền đậm.
Trang ngang (bảng tiêu chí rộng, bản đồ khổ ngang trên A4) xoay sao cho đầu trang quay về phía gáy, cả ở trang chẵn và trang lẻ, để người đọc xoay cuốn theo một chiều. Số trang vẫn đặt theo vị trí của trang đứng. Kiểm cột cuối của bảng ngang không rơi vào lề đóng.
Bản đồ A1–A0 không đóng vào cuốn. In tờ rời đúng tỷ lệ, gấp về A4 theo kiểu khung tên ở ngoài, ghi mã tờ (ví dụ PL-03) khớp danh mục phụ lục. Nếu trường cho phép, có thể bỏ trong bìa kẹp hoặc túi dán ở bìa sau.
Hatch, màu GIS và bản in trắng đen
Bản đồ xuất từ GIS thường ở hệ RGB. File RGB vẫn in được; khi chuyển sang CMYK, xanh lá của mảng cây xanh và xanh dương của mặt nước rực thường dịu đi. Nếu hai phân khu dùng hai sắc xanh gần nhau, in thử một trang để chắc vẫn phân biệt được.
Bản dành cho hội đồng in màu, nhưng bản photo lưu hoặc bản phát tóm tắt có thể trắng đen. Khi đó màu thành các mức xám; hai màu khác nhau có thể cho cùng một mức xám. Cách giữ phân lớp:
- Các vùng tô liền kề chênh nhau ít nhất khoảng 20% độ đậm xám.
- Dùng hatch khác kiểu (gạch chéo, chấm, gạch ngang) cho các phân khu cạnh nhau; khoảng cách nét hatch từ 1 mm ở kích thước in để không dính thành mảng.
- Nét hatch 0,25 pt trở lên; hatch mảnh hơn dễ mất khi photo lại.
Cách chọn in màu hay trắng đen theo từng nhóm trang có trong bài in bản vẽ trắng đen hay màu.
Ảnh khảo sát: pixel, mã ảnh và chú thích
Ảnh khảo sát cần khoảng 300 ppi ở kích thước đặt trên trang. Ảnh rộng 8 cm cần khoảng 945 pixel; ảnh nửa trang A4 (khoảng 17 cm) cần khoảng 2.000 pixel; ảnh tràn trang A4 cần khoảng 2.500 × 3.550 pixel. Ảnh chụp điện thoại 12 MP (4.000 × 3.000) đủ cho cả trang. Ảnh lấy từ tin nhắn thường bị nén còn 1.280–1.600 pixel, chỉ đủ cho ảnh rộng khoảng 11–13 cm.
Mỗi ảnh có mã (ví dụ A-12) khớp với điểm trên bản đồ vị trí khảo sát, kèm chú thích địa điểm và thời điểm chụp. Khi cập nhật ranh giới hoặc thêm điểm khảo sát, rà cùng lúc bản đồ, danh mục ảnh và bảng tiêu chí trước khi xuất lại PDF. Ảnh hiện trạng và ảnh minh họa phương án đề xuất ghi chú thích phân biệt rõ.
Giấy, trang màu xen kẽ và gáy cuốn
Fort 100–120 gsm cho trang chữ: không lóa, viết nhận xét được, in hai mặt ít thấu. Fort 80 gsm in hai mặt dễ thấy chữ mặt sau, nhất là trang có bảng đậm. Couche mờ 150 gsm cho trang bản đồ, ảnh: màu rõ, ít lóa hơn Couche bóng khi tra cứu dưới đèn.
Trang màu xen kẽ ghi bằng số trang PDF, không theo số in ở chân trang: ví dụ “màu: 12, 15–18, 24, 40–52; còn lại trắng đen”. Trang màu và trang chữ nằm hai mặt của cùng một tờ thì cả tờ in trên một loại giấy; muốn tách giấy, đặt trang bản đồ bắt đầu ở trang lẻ và kết thúc ở trang chẵn.
Gáy cuốn tính theo số tờ thật. Ví dụ 120 trang chữ Fort 100 gsm (60 tờ, khoảng 0,11 mm/tờ) và 40 trang màu Couche 150 gsm (20 tờ, khoảng 0,13 mm/tờ): ruột dày khoảng 9,2 mm, cộng bìa thành gáy khoảng 10 mm, đủ in tên đề tài ngắn trên gáy cỡ chữ cao khoảng 5 mm. Đóng keo nhiệt hợp cuốn từ khoảng 3 mm; cuốn dày trên 25 mm hoặc nhiều tờ gấp nên hỏi trước phương án bìa cứng.
Bộ hồ sơ nộp, tờ rời và lịch nhận
Gửi qua trang in đề cương – in thuyết minh: PDF cuối từng trang, mẫu bìa của khoa, số cuốn (ví dụ 5 cuốn cho hội đồng và 2 cuốn lưu), danh sách trang màu, giấy, kiểu đóng, danh sách tờ rời kèm mã và số bản mỗi bộ, hạn nhận. Bảng dưới giúp đối chiếu từng thành phần trước khi gửi.
| 组成部分 | Kiểm trước khi gửi | Lỗi thường gặp | 处理方法 |
|---|---|---|---|
| Bản đồ phân tích | Nhãn từ 6 pt, thanh tỷ lệ, chú giải | Thu nguyên board A1, chữ còn 4 pt | Dàn lại bản đồ riêng cho khổ A4 |
| Ảnh khảo sát | Đủ pixel, mã ảnh khớp bản đồ | Ảnh lấy từ tin nhắn bị nén | Lấy ảnh gốc từ máy chụp |
| Bảng tiêu chí khu vực | Cột cuối nằm ngoài lề đóng | Bảng ngang bị gáy che cột | Xoay trang hoặc tách bảng |
| Bản đồ A3 gấp, tờ rời A1–A0 | Mã tờ, khổ, số bản mỗi bộ | Thiếu một tờ trong một bộ | Lập danh mục phụ lục theo từng bộ |
Ruột và bìa mềm đơn giản: đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file. Bìa cứng ép nhũ, nhiều cuốn hoặc kèm bản đồ khổ lớn được hẹn lịch cụ thể khi chốt. Giờ làm việc Thứ 2 – Thứ 7, 7h30–12h và 13h–17h30, Chủ nhật nghỉ; hạn nộp sáng thứ Hai cần chốt file trong ngày thứ Bảy. Giá theo số lượng và quy cách. Nhà in Phát không lưu file sau đơn hàng, nên giữ PDF cuối để in thêm bản lưu sau khi chỉnh sửa theo góp ý hội đồng. Các mẫu bìa, kiểu đóng có trên hệ thống in trực tuyến Thế Giới In Nhanh.
Câu hỏi thường gặp khi in luận văn kiến trúc, quy hoạch
Bản đồ gấp, trang ngang, hatch trắng đen, ảnh khảo sát và gáy cuốn.
Board đồ án A1 thu nhỏ có dùng làm trang luận văn được không?
Thường không đọc được. A1 thu về A4 nhỏ đi khoảng 2,8 lần mỗi cạnh: chữ 12 pt còn khoảng 4,3 pt. Dàn lại bản đồ và sơ đồ cho khổ A4 với nhãn từ 6 pt; board chỉ dùng cho buổi trình bày.
Điểm khảo sát trên nền bản đồ đậm bị chìm khi in, chỉnh gì?
Tăng ký hiệu điểm lên đường kính từ 2 mm, thêm viền trắng khoảng 0,5 pt quanh ký hiệu và giảm độ đậm nền ảnh vệ tinh khoảng 20–30%. Mã điểm đặt cạnh ký hiệu, cỡ từ 6 pt. In thử trang có nhiều điểm nhất trên Couche mờ.
Bìa cứng luận văn kiến trúc ép nhũ được những nội dung nào?
Tên trường, tên đề tài, tên học viên, người hướng dẫn, năm, theo mẫu của khoa; thường ép nhũ vàng hoặc bạc trên bìa simili. File là vector một màu đặc, nét và chữ mảnh nhất khoảng 0,3 mm; logo trường cần bản vector, không dùng ảnh chụp.
Trang ngang trong luận văn xoay về phía nào?
Đầu trang quay về phía gáy ở cả trang chẵn và lẻ, để người đọc xoay cuốn theo một chiều. Số trang giữ vị trí như trang đứng. Kiểm cột cuối của bảng ngang không rơi vào lề đóng.
Hatch phân khu in trắng đen bị dính nhau, chỉnh thế nào?
Cho các vùng liền kề chênh nhau ít nhất khoảng 20% độ đậm xám, dùng hatch khác kiểu cho phân khu cạnh nhau, khoảng cách nét hatch từ 1 mm và nét từ 0,25 pt ở kích thước in. In thử trang có nhiều phân khu nhất.
Mảng cây xanh và mặt nước trên bản đồ GIS in ra bị nhạt, vì sao?
Màu xanh lá và xanh dương rực trong hệ RGB nằm ngoài khoảng màu in CMYK, nên khi chuyển đổi sẽ dịu đi. File RGB vẫn nhận; nếu hai phân khu dùng hai sắc xanh gần nhau, đổi một vùng sang hatch hoặc tăng chênh lệch độ đậm, rồi in thử một trang.
Ảnh khảo sát lấy từ Zalo có đủ nét để in không?
Ảnh gửi qua ứng dụng nhắn tin thường bị nén còn 1.280–1.600 pixel cạnh dài, chỉ đủ cho ảnh rộng khoảng 11–13 cm ở 300 ppi. Ảnh nửa trang A4 cần khoảng 2.000 pixel; lấy ảnh gốc từ máy chụp hoặc gửi dạng tệp.
Trang màu xen kẽ trong luận văn ghi thế nào cho nhà in?
Ghi theo số trang PDF, không theo số in ở chân trang, ví dụ “màu: 12, 15–18, 40–52”. Trang màu và trang chữ ở hai mặt cùng một tờ sẽ in chung một loại giấy; muốn tách giấy, cho nhóm bản đồ bắt đầu ở trang lẻ, kết thúc ở trang chẵn.
Luận văn 160 trang có in được tên đề tài trên gáy không?
Với 120 trang Fort 100 gsm và 40 trang Couche 150 gsm, gáy khoảng 10 mm, đủ cho tên ngắn cao khoảng 5 mm. Tên đề tài dài nên rút gọn hoặc chỉ ghi tên học viên và năm theo mẫu trường.
Bản đồ tổng thể A0 nộp kèm luận văn đóng thế nào?
In tờ rời đúng tỷ lệ, gấp về A4 với khung tên ở mặt ngoài, ghi mã tờ khớp danh mục phụ lục. Bỏ trong bìa kẹp hoặc túi dán ở bìa sau nếu trường cho phép; không đóng tờ A0 gấp vào gáy keo vì cuốn sẽ phồng.

