2 小时快速印刷
Hai cuốn catalogue bìa cứng và bìa mềm để so cấu tạo
作者:
09.10.2026

Catalogue bìa cứng hay bìa mềm: chọn theo mục đích và ngân sách

胶装画册印刷

Chọn bìa cứng khi catalogue nằm ở showroom, bàn tư vấn và được lật nhiều tháng; chọn bìa mềm khi cuốn được phát, gửi đi hoặc nội dung đổi theo mùa. Bìa mềm là một tờ giấy bìa 250–300 gsm cán màng, ôm khối ruột. Bìa cứng là hai tấm carton 2–3 mm bọc giấy in, nhô ra khỏi ruột khoảng 3 mm mỗi cạnh và làm cuốn A4 nặng hơn bản bìa mềm khoảng 130–150 g. Bìa không quyết định độ mở: cuốn mở phẳng hay không là do kiểu đóng ruột.

Quy cách khác: In Catalogue Gáy lò xo · In Catalogue kim giữa.

Để chọn định lượng giấy cụ thể, xem hướng dẫn giấy bìa và ruột catalogue; để xem các quy cách đang nhận, vào danh mục In Catalogue.

CẤU TẠO

Bìa cứng khác bìa mềm ở đâu?

Bìa mềm là một tờ giấy bìa Couche, Bristol hoặc Ivory, thường 250–300 gsm, in một hoặc hai mặt, cán màng mặt ngoài, rồi gắn với ruột theo kiểu đóng: ôm sống gáy (gáy keo), gấp đôi bấm ghim cùng ruột (kim giữa) hoặc đục lỗ (lò xo). Kích thước bìa bằng khổ ruột sau khi xén.

Bìa cứng (bìa bồi) gồm hai tấm carton xám dày khoảng 2–3 mm và một dải gáy, được bọc bằng giấy in đã cán màng (thường Couche 120–150 gsm) hoặc simili, vải. Giấy bọc gập vào mặt trong khoảng 15 mm mỗi cạnh. Khối ruột gắn vào bìa qua tờ lót (forzat) dán vào mặt trong hai tấm bìa. Giữa tấm bìa và gáy có một khe bản lề khoảng 7–8 mm để bìa mở được mà không kéo ruột.

Một tờ giấy bìa 350 gsm vẫn là bìa mềm, chỉ cứng tay hơn. Khi xin báo giá, ghi rõ “bìa giấy cán màng” hay “bìa bồi carton” và hỏi ảnh cạnh, gáy của cuốn mẫu thay vì chỉ ảnh mặt bìa.

Cạnh và góc cuốn catalogue bìa bồi cứng
Catalogue bìa cứng: tấm bìa nhô khỏi khối ruột ở ba cạnh, góc bọc gập vào mặt trong.
SO SÁNH NHANH

Bảng so sánh cấu tạo bìa cứng và bìa mềm

So sánh cấu tạo bìa cứng và bìa mềm của catalogue A4
项目Bìa cứng (bìa bồi)平装封面
Vật liệu chínhCarton xám 2–3 mmCouche, Bristol, Ivory 250–300 gsm
外表面Giấy in cán màng bồi lên carton; hoặc simili, vải để ép nhũIn trực tiếp lên giấy bìa, cán màng mờ hoặc bóng
Liên kết với ruộtTờ lót dán ruột vào mặt trong bìa; ruột gáy keo, ốc vít hoặc lò xoBìa ôm sống gáy, bấm kim cùng ruột hoặc đục lỗ
Kích thước ngoài với ruột A4 210 × 297 mmKhoảng 213 × 303 mm mỗi tấm bìa (nhô 3 mm ở đầu, chân, mép ngoài)210 × 297 mm
Trọng lượng thêm cho mỗi cuốn A4Khoảng 160–190 g (hai tấm carton 2 mm và giấy bọc)Khoảng 35–40 g
交期Thêm bồi, bọc góc, vào bìa, chờ keo khô; hẹn lịch riêngĐơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; đơn nhiều hẹn lịch cụ thể

Khi so hai phương án, giữ nguyên khổ, số trang, giấy ruột và số cuốn, chỉ đổi phần bìa. Chênh lệch giá và lịch khi đó phản ánh đúng phần bìa.

NHIỆM VỤ CỦA CUỐN

Chọn theo nơi cuốn được dùng

情况建议选择理由Thử trên mẫu
Đặt tại showroom, bàn tư vấn, dùng 6–12 tháng精装封面Giữ dáng sau hàng trăm lượt lật, góc ruột được bìa cheMở trang giữa, đặt trên bàn, xếp lên kệ
Phát tại hội chợ, vài trăm cuốnBìa mềm 250–300 gsm cán mờNhẹ hơn khoảng 25%, dễ cho vào túiTrọng lượng kiện, góc bìa sau một ngày cầm
Gửi đối tác qua đường bưu chínhBìa mềm, gói phẳngKiện nhẹ, góc không móp như bìa cứngĐóng gói thử, kiểm góc khi nhận
Nội dung đổi theo mùa hoặc theo quýBìa mềm, hoặc bìa cứng ốc vít thay ruộtKhông làm lại bìa bồi cho mỗi phiên bảnChi phí mỗi lần cập nhật
Vài cuốn quà tặng đối tác lớn精装烫金封面Số lượng ít, trọng lượng không phải vấn đềÉp nhũ trên simili hoặc giấy cán mờ

Một doanh nghiệp có thể làm cả hai: 20–50 cuốn bìa cứng cho showroom và vài trăm cuốn bìa mềm để phát, dùng chung file ruột. Mỗi cấu hình cần file bìa riêng và mã phiên bản riêng trên phiếu đặt, được báo giá và hẹn lịch riêng.

Kích thước ngoài và trọng lượng cuốn bìa cứng

Với ruột A4 210 × 297 mm, mỗi tấm bìa cứng khoảng 213 × 303 mm và cuốn dày thêm khoảng 4–6 mm do hai tấm carton. Nếu cuốn phải vừa ngăn kệ, hộp quà hay túi giấy có sẵn, đo kích thước lọt lòng và hỏi kích thước ngoài của cuốn mẫu trước khi chốt.

Ước tính trọng lượng (thường gặp, chênh theo loại giấy): ruột A4 80 trang Couche 150 gsm khoảng 375 g. Bìa mềm 300 gsm thêm khoảng 37 g, cả cuốn khoảng 410 g. Bìa cứng carton 2 mm thêm khoảng 160–190 g, cả cuốn khoảng 540–565 g. Với 300 cuốn, chênh lệch khoảng 40 kg, đáng tính khi chở tới hội chợ hoặc gửi tỉnh.

Bìa cứng đi được với kiểu đóng nào

  • Gáy keo: phổ biến nhất cho catalogue bìa cứng; cuốn dày dùng lâu nên chừa lề gáy rộng và để thớ giấy song song gáy.
  • Ốc vít: bìa cứng và ruột đục lỗ, thay ruột được; hợp catalogue mẫu vật liệu, bảng giá cập nhật.
  • Lò xo: làm được với hai tấm bìa bồi rời, cuốn mở phẳng, nhưng không có sống gáy để in tên.
  • Kim giữa: không đi với bìa bồi; cuốn kim giữa muốn cứng cáp hơn thì dùng bìa 300 gsm cán màng.

Bìa cứng không làm ruột mở phẳng hơn. Ruột gáy keo đóng trong bìa cứng vẫn khuất 3–6 mm sát gáy như bìa mềm. Cần ảnh trải qua gáy và mở phẳng thì chọn lò xo hoặc kiểu đóng mở phẳng ngay từ đầu; xem catalogue gáy lò xo.

THIẾT KẾ BÌA

File bìa: bìa mềm và bìa cứng khác nhau thế nào

Bìa mềm gáy keo: file trải gồm bìa sau, gáy, bìa trước, cộng tràn lề 2 mm ở các cạnh ngoài. Ví dụ ruột A4 gáy 6 mm: file rộng 210 + 6 + 210 = 426 mm, cao 297 mm, thêm 2 mm tràn lề mỗi cạnh ngoài. Chữ gáy cách hai đường gấp ít nhất 1 mm; logo, QR cách đường gấp gáy từ 5 mm.

Bìa cứng: file gồm hai tấm bìa, dải gáy, hai khe bản lề và phần gập vào mặt trong khoảng 15 mm mỗi cạnh. Ảnh chạm mép bìa sẽ bị cuốn qua cạnh tấm carton, nên chủ thể, chữ và logo đặt cách cạnh tấm bìa từ 8–10 mm. Không dùng file bìa mềm phóng to vài milimét: khe bản lề và phần gập không có trong file bìa mềm. Xin khuôn bìa sau khi chốt số trang và giấy ruột, vì gáy bìa cứng tính theo độ dày ruột thật.

Bìa cứng muốn in ảnh tràn mặt thì bồi giấy Couche đã in, cán màng. Bìa simili hoặc vải thường để trơn, nội dung là chữ và logo ép nhũ, không in ảnh nhiều màu. File ép nhũ là vector một màu đặc, layer riêng, nét mảnh nhất khoảng 0,3 mm.

Bìa mềm cán màng một mặt có thể cong nhẹ vào phía không cán khi gặp ẩm. Với catalogue để lâu ở nơi ẩm, cán cả hai mặt bìa giúp bìa phẳng hơn, nhưng vùng gáy mặt trong vẫn để trắng cho keo bám nếu đóng gáy keo.

CHI PHÍ VÀ LỊCH

Chi phí và thời gian: bìa cứng thêm những công đoạn nào

So với bìa mềm, bìa cứng thêm vật liệu carton, giấy bọc, công bồi, bọc góc, dán tờ lót, vào bìa và thời gian chờ keo khô; ép nhũ còn thêm khuôn ép. Vì vậy bìa cứng có chi phí mỗi cuốn cao hơn và không áp mốc khoảng 2 giờ của đơn thường: lịch được hẹn khi chốt file. Đơn ít cuốn chịu phần chuẩn bị (khuôn bìa, khuôn ép nhũ) chia trên ít cuốn nên đơn giá cao; tăng số cuốn làm đơn giá giảm.

Nội dung đổi thường xuyên thì phần bìa cứng phải làm lại theo mỗi phiên bản ruột. Khi đó, bìa mềm hoặc bìa cứng ốc vít thay ruột được thường kinh tế hơn. Giá theo số lượng và quy cách; gửi hai phương án trên cùng thông số để nhận báo giá so sánh.

DUYỆT MẪU

Kiểm bìa khi nhận cuốn mẫu

Bìa cứng: đặt cuốn trên mặt phẳng, bìa không cong vênh; góc bọc gọn, không lộ carton; tờ lót dán phẳng, không phồng; bìa nhô đều khoảng 3 mm ở ba cạnh; chữ gáy thẳng; mở trang đầu, giữa, cuối thấy ruột không bị kéo theo bìa.

Bìa mềm: hai đường gấp gáy không nứt mực (nền đậm dễ lộ vệt trắng nếu không cấn trước); lớp cán không bong ở mép; bìa không quăn sau vài lần cho vào túi, lấy ra.

Bìa mềm catalogue uốn cong khi mở để so với bìa bồi cứng
Catalogue bìa mềm uốn theo tay khi mở; kiểm nếp gấp gáy và lớp cán trên cuốn thành phẩm.

Bìa cứng đóng thùng cần bọc riêng từng cuốn và chèn góc, vì góc carton móp khi va chạm. Bìa mềm xếp phẳng, chèn kín thùng để không cong. Thời gian vận chuyển tính riêng với thời gian sản xuất.

Gửi yêu cầu báo giá bìa cứng và bìa mềm

  • Khổ ruột, số trang, giấy ruột, số cuốn.
  • Kiểu bìa: bìa mềm (giấy, định lượng, cán một hay hai mặt) hoặc bìa bồi cứng (vật liệu bọc, có ép nhũ hay không).
  • Kiểu đóng ruột và yêu cầu mở phẳng nếu có.
  • Vật chứa cố định (kệ, hộp, túi) kèm số đo lọt lòng, nếu cuốn phải vừa vật đó.
  • Hạn cần dùng và nơi nhận. Đơn sản xuất sau khi duyệt bản in và đặt cọc 70%; nhận tại hai cơ sở TP.HCM hoặc dùng hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.

GIẢI ĐÁP VỀ BÌA

Câu hỏi thường gặp khi chọn bìa catalogue

Số trang, file bìa, trọng lượng, thời gian và cách kiểm catalogue bìa cứng, bìa mềm.

Catalogue bao nhiêu trang thì đáng làm bìa cứng?

Ruột nên dày từ khoảng 5 mm (khoảng 80 trang Couche 150 gsm) để cân với hai tấm carton 2–3 mm. Cuốn 24–32 trang làm bìa cứng trông như tấm bìa kẹp vài tờ, nặng và cứng hơn nhu cầu; dùng bìa mềm 300 gsm sẽ hợp hơn.

Cuốn bìa cứng A4 to hơn khổ A4 bao nhiêu?

Mỗi tấm bìa nhô khoảng 3 mm ở đầu, chân và mép ngoài, nên khoảng 213 × 303 mm, và dày thêm 4–6 mm do hai tấm carton. Đo vật chứa trước nếu cuốn phải vừa hộp hoặc ngăn kệ có sẵn.

Bìa cứng làm cuốn A4 nặng thêm bao nhiêu?

Khoảng 160–190 g với carton 2 mm, so với khoảng 37 g của bìa mềm 300 gsm. Cuốn 80 trang Couche 150 gsm khoảng 410 g khi bìa mềm và khoảng 550 g khi bìa cứng; 300 cuốn chênh khoảng 40 kg.

File bìa cứng cần chừa gì khác file bìa mềm?

Thêm phần gập vào mặt trong khoảng 15 mm mỗi cạnh, hai khe bản lề giữa tấm bìa và gáy, và gáy tính theo độ dày ruột thật. Chữ, logo cách cạnh tấm bìa 8–10 mm. Dàn theo khuôn nhà in gửi, không phóng to file bìa mềm.

Bìa cứng in ảnh tràn mặt được không?

Được, bằng cách in ảnh lên giấy Couche, cán màng rồi bồi lên carton. Bìa simili hoặc vải thường để trơn, chỉ ép nhũ chữ và logo, không in ảnh nhiều màu.

Bìa mềm cán một mặt bị cong, xử lý thế nào?

Bìa cán màng một mặt có thể cong nhẹ vào phía không cán khi gặp ẩm. Cán cả hai mặt giúp phẳng hơn; với gáy keo, vùng gáy mặt trong vẫn để trắng, không cán, để keo bám.

Làm bìa cứng mất thêm bao lâu so với bìa mềm?

Bìa cứng thêm bồi carton, bọc góc, dán tờ lót, vào bìa và chờ keo khô, nên không áp mốc 2 giờ; lịch được hẹn khi chốt file theo số cuốn và có ép nhũ hay không. Đơn bìa mềm in và đóng thông thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file.

Nhận catalogue bìa cứng cần kiểm những điểm nào?

Bìa phẳng không cong vênh, góc bọc gọn không lộ carton, tờ lót dán phẳng không phồng, bìa nhô đều ở ba cạnh, chữ gáy thẳng, ruột đúng thứ tự và không bung khi mở ở đầu, giữa, cuối cuốn.

Bạn đang xem: Catalogue bìa cứng hay bìa mềm: chọn theo mục đích và ngân sách