Catalogue lò xo: khi nào cần mở phẳng và thay trang?

Chọn catalogue lò xo khi người dùng cần đặt cuốn mở nằm yên trên bàn, gập trang ra sau một vòng 360° hoặc tra bảng bằng một tay. Cái giá phải trả là một dải lỗ khoảng 8–10 mm ở mép đóng, vòng lộ ra ngoài và ảnh không thể chạy liền qua hai trang. Lò xo kim loại (Lò xo kẽm vòng đôi) đã khép thì gần như không mở ra để thay trang; nếu cần cập nhật theo mùa, hãy tính chuyện đó từ lúc chọn loại vòng.
Mở phẳng và lật 360° khác nhau thế nào?
Mở phẳng là khi bạn mở hai trang đối diện, cả hai nằm sát mặt bàn mà không cần đè tay. Cuốn gáy keo không làm được việc này vì khối giấy bị keo giữ ở sống gáy; cuốn kim giữa nằm gần phẳng ở trang giữa nhưng các trang đầu vẫn vồng lên. Lò xo giữ từng tờ bằng vòng xỏ qua lỗ, nên mỗi tờ xoay quanh vòng một cách độc lập.
Lật 360° là gập hẳn nửa cuốn ra phía sau, để chỉ một trang hướng lên. Kiểu dùng này hợp với bảng màu, sổ mẫu vật liệu, thực đơn đặt bàn và catalogue kỹ thuật mà người tư vấn cầm một tay, tay kia chỉ vào mẫu thật.
Có một điều người đặt hay bỏ qua: khi mở phẳng, giữa hai trang luôn có một khe. Khe đó rộng bằng đường kính vòng cộng hai dải lỗ, thường 15–25 mm với cuốn A4 vừa phải. Vì vậy cuốn lò xo hợp với bố cục mỗi trang tự đứng một mình, không hợp với ảnh chạy tràn qua hai trang.

Lò xo kim loại hay lò xo nhựa khi cần thay trang
Lò xo kim loại vòng đôi là vòng đôi bằng thép phủ màu, luồn qua lỗ rồi ép khép thành hình tròn. Cuốn chắc, lật êm, nhìn gọn. Nhưng vòng đã ép khép thì khi banh ra để thêm tờ sẽ méo, ép lại không còn tròn đều; các tờ sát chỗ méo lật bị cạ. Trên thực tế, muốn thay trang ở cuốn Lò xo kẽm vòng đôi là tháo vòng cũ và đóng vòng mới.
Lò xo nhựa xoắn (một sợi nhựa xoắn liên tục) có thể vặn ra, vặn vào để rút hoặc chèn tờ. Lò xo nhựa dạng lược thì mở được các răng bằng dụng cụ. Đổi lại, vòng nhựa trông kém sắc nét hơn và mép cuốn dày hơn ở cùng số tờ.
Câu hỏi nên đặt ra không phải “có thay trang được không” mà là “bao lâu thay một lần, thay mấy tờ”. Nếu bảng giá đổi mỗi quý và chỉ 2–4 tờ bị ảnh hưởng, có hai cách thực tế:
- In lại cả cuốn với số lượng vừa đủ dùng một quý. In kỹ thuật số không tốn chế bản nên đặt ít cuốn vẫn hợp lý.
- Tách phần hay đổi (giá, khuyến mãi theo đợt) ra một tờ rời kẹp cuối cuốn, phần ổn định (ảnh, thông số) đóng lò xo kim loại.
Khi cần đúng kiểu vòng nhựa tháo lắp được, nói rõ lúc gửi yêu cầu để nhân viên báo loại vòng đang nhận và cách thay.
Chọn cỡ vòng theo độ dày cuốn
Cỡ vòng được chọn theo độ dày tập giấy, không theo số trang. Quy tắc thường gặp trong ngành: đường kính vòng lớn hơn độ dày cả cuốn (ruột + bìa) khoảng 2–3 mm. Vòng vừa khít làm tờ cuối bị kẹt, lật nặng tay; vòng quá rộng làm cuốn xộc xệch, các tờ trượt lệch nhau.
Ví dụ tính nhanh cho catalogue A4:
- Ruột 40 trang Couche 150 gsm = 20 tờ. Mỗi tờ dày khoảng 0,13 mm, tổng khoảng 2,6 mm. Thêm bìa trước và sau Couche 300 gsm, mỗi tờ khoảng 0,3 mm. Cả cuốn khoảng 3,2 mm, dùng vòng khoảng 6,4 mm (1/4 inch).
- Ruột 100 trang cùng giấy = 50 tờ, khoảng 6,5 mm. Cộng bìa thành khoảng 7,1 mm, dùng vòng khoảng 9,5 mm (3/8 inch).
- Đổi ruột sang Fort 100 gsm (giấy không tráng phủ, dày tay hơn Couche cùng định lượng) thì cùng 50 tờ có thể dày thêm 10–20%. Cần tính lại cỡ vòng.
Lưu ý: gsm là khối lượng giấy trên mỗi mét vuông, không phải độ dày. Hai loại giấy cùng 150 gsm có thể dày khác nhau. Khi gửi yêu cầu, ghi số tờ ruột và loại giấy là đủ để chọn vòng; bạn không cần tự đo.
Dải lỗ chiếm bao nhiêu lề gáy?
Với Lò xo kẽm vòng đôi bước 3:1 (3 lỗ mỗi inch, tâm lỗ cách nhau khoảng 8,5 mm), mép dài 297 mm của tờ A4 thường có 34 lỗ. Lỗ vuông khoảng 4–5 mm, mép lỗ cách mép giấy khoảng 3–5 mm. Cộng lại, dải bị đục chiếm khoảng 8–10 mm tính từ mép đóng. Vòng lớn trên khoảng 14 mm thường chuyển sang bước 2:1 (khoảng 12,7 mm), lỗ to hơn và dải đục rộng hơn.
Từ đó suy ra các quy tắc dàn trang:
- Chữ, mã hàng, số trang: cách mép đóng ít nhất 12–15 mm. Ba mép còn lại giữ chữ cách mép xén ít nhất 5 mm.
- Nền và ảnh chạy ra mép: kéo thêm 2 mm tràn lề ở cả bốn cạnh, kể cả cạnh đóng.
- Bảng nhiều cột: đặt cột mã hàng ở phía mép ngoài, cột mô tả ở phía gáy. Khi lỗ cắt vào vùng gáy, phần mất là khoảng trắng chứ không phải dữ liệu.
- Ảnh ghép hai trang: tách thành hai ảnh độc lập hoặc chuyển sang trang có mép đóng không đi qua chủ thể. Một khuôn mặt hay logo nằm đúng khe giữa sẽ bị dải lỗ và vòng chia đôi.
Cạnh đóng phải ghi rõ: cạnh dài bên trái (kiểu sách), cạnh trên (kiểu lịch, lật lên) hay cạnh ngắn của cuốn khổ ngang. Cùng một file, đổi cạnh đóng là đổi toàn bộ hướng lề.

Giấy bìa và giấy ruột cho cuốn lật nhiều
Cuốn lò xo được lật nhiều hơn cuốn gáy keo, nên giấy chịu lực ở hàng lỗ. Cấu hình thường dùng trên trang sản phẩm:
- Ruột Couche 100–200 gsm cho trang nhiều ảnh. Couche 150 gsm là điểm khởi đầu cân bằng giữa độ đứng tay và độ dày cuốn.
- Ruột Fort 70–120 gsm cho trang cần viết tay, ghi chú khi tư vấn. Mặt giấy nhám nhận mực bút bi tốt hơn Couche.
- Bìa Couche, Bristol hoặc Ivory 250–300 gsm, thường cán màng. Bìa mỏng 70–120 gsm không đủ cứng để bảo vệ ruột và rách ở hàng lỗ sau vài tuần dùng.
- Tấm nhựa trong phủ ngoài bìa khi cuốn đặt ở quầy, bị cầm bằng tay ướt hoặc dính dầu.
Trang chỉ có tab chia mục hoặc tờ gấp mở rộng (gấp đôi ra ngoài) cần lưu ý thêm. Tờ gấp phải thu vào trong mép xén ít nhất 3–5 mm để khi lật không cạ vòng. Tab thò ra ngoài phải nằm ở mép đối diện với mép đóng.
Bảng chọn: lò xo, gáy keo hay kim giữa
| Nhu cầu chính | 线圈装订 | 胶装 | 骑马钉 |
|---|---|---|---|
| Đặt mở yên trên bàn | Có, hai trang nằm phẳng | Không, trang vồng lên ở gáy | 中间页近乎平摊 |
| Gập ra sau, cầm một tay | Có, lật 360° | Không | Không, dễ bung kim |
| Ảnh chạy liền qua hai trang | Không, có khe 15–25 mm | Được, nhưng mất khoảng 5–7 mm sát gáy | Được ở trang giữa |
| In tên trên sống gáy | Không có sống gáy | Có khi cuốn đủ dày | Không |
| 页数 | Số chẵn, không cần bội số của 4 | Thường từ khoảng 40 trang trở lên | Bội số của 4, thường 8–48 trang |
| Thay vài trang sau này | Vòng nhựa tháo lắp được; Lò xo kẽm vòng đôi phải đóng vòng mới | Phải in lại cả cuốn | Phải in lại cả cuốn |
| Lề trong cho chữ | 12–15 mm từ mép đóng | 12–15 mm từ gáy | Khoảng 5 mm, trang giữa cần bù độ đẩy |
Nếu bảng trên cho thấy bạn cần sống gáy để xếp kệ, xem kiểm tra độ bền catalogue gáy keo. So sánh đầy đủ cả ba cách đóng nằm ở bảng chọn kiểu đóng catalogue.
Gửi file và đặt in catalogue lò xo
Gửi PDF trang đơn theo thứ tự đọc, đúng khổ thành phẩm (A4 210 × 297 mm hoặc A5 148 × 210 mm), hệ màu CMYK, nhúng font, tràn lề 2 mm mỗi cạnh. Bìa trước và bìa sau có thể nằm chung file ruột, miễn ghi rõ trang nào là bìa và bìa dùng giấy gì. Kèm theo:
- Cạnh đóng và hướng lật.
- Số tờ ruột, giấy ruột, giấy bìa, có cán màng hoặc tấm nhựa trong hay không.
- Có cần thay trang về sau hay không, bao lâu một lần.
- Số cuốn và ngày cần nhận.
Nhà in Phát kiểm file và tư vấn miễn phí; thiết kế hoặc chỉnh sửa file có tính phí và được báo trước khi làm. Đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; đơn nhiều cuốn được hẹn lịch cụ thể. Đặt cọc 70% khi chốt đơn, nhận tại cửa hàng hoặc hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển. Gửi quy cách qua trang dịch vụ in catalogue gáy lò xo; nếu còn phân vân giữa các dòng catalogue, xem danh mục In Catalogue hoặc đặt trực tiếp sản phẩm in catalogue gáy lò xo.
技术答疑
Câu hỏi thường gặp về catalogue lò xo
Cỡ vòng, lề gáy, thay trang và cách đặt in.
Catalogue lò xo có in được tên lên gáy không?
Không. Cuốn lò xo không có sống gáy, phần gáy là vòng kim loại hoặc nhựa. Nếu cuốn cần nhận diện khi xếp đứng, in tên lên bìa trước ở vùng cách mép đóng ít nhất 15 mm, hoặc chọn gáy keo khi ruột từ khoảng 40 trang trở lên.
Cuốn 100 trang A4 dùng vòng cỡ nào?
Với ruột Couche 150 gsm, 100 trang là 50 tờ, dày khoảng 6,5 mm; thêm hai bìa 300 gsm thành khoảng 7,1 mm. Vòng phù hợp thường khoảng 9,5 mm, tức lớn hơn độ dày cuốn 2–3 mm để lật không kẹt.
Đóng lò xo ở cạnh trên như lịch được không?
Được, chỉ cần ghi rõ cạnh đóng khi gửi file. Khi đóng cạnh trên, mặt sau của mỗi tờ phải xoay ngược 180° so với mặt trước để người xem lật lên vẫn đọc xuôi. Lề 12–15 mm khi đó tính từ cạnh trên.
Bảng giá đổi mỗi quý thì chọn Lò xo kẽm vòng đôi hay lò xo nhựa?
Nếu mỗi quý chỉ đổi 2–4 tờ, Lò xo kẽm vòng đôi kèm tờ bảng giá rời kẹp cuối cuốn thường gọn hơn, vì Lò xo kẽm vòng đôi đã ép khép thì không mở lại được. Nếu cần rút và chèn tờ ngay trong cuốn, chọn lò xo nhựa xoắn. Vòng nhựa kém sắc nét hơn và mép cuốn dày hơn ở cùng số tờ.
Catalogue lò xo có cần số trang chia hết cho 4 không?
Không. Lò xo đóng từng tờ rời nên chỉ cần số trang chẵn (mỗi tờ hai mặt). Một tờ chỉ in một mặt vẫn tính là hai trang, mặt sau để trắng.
Bìa lò xo nên dùng giấy bao nhiêu gsm?
Bìa thường dùng Couche, Bristol hoặc Ivory 250–300 gsm và cán màng. Bìa dưới khoảng 200 gsm dễ quăn góc và rách ở hàng lỗ sau một thời gian lật. Cuốn đặt ở quầy có thể thêm tấm nhựa trong phủ ngoài.
Đặt 20 cuốn lò xo thì bao lâu nhận được?
Đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file và quy cách. Khi số cuốn nhiều, cần thêm tấm nhựa trong hoặc tờ gấp đặc biệt, lịch được hẹn cụ thể lúc chốt đơn.

