Chọn giấy bìa và giấy ruột catalogue: C150, C200 hay C300?

Catalogue A4 nhiều ảnh thường dùng ruột Couche 150 gsm (C150) và bìa Couche 250–300 gsm cán mờ. Ruột tăng lên C200 khi ảnh tràn trang tối màu bị lộ bóng sang mặt sau hoặc khi cuốn ít trang cần cảm giác dày tay. Bìa C300 hợp cuốn gáy keo và lò xo; cuốn kim giữa mỏng dùng bìa C250 gấp gọn hơn. Chốt bằng cuốn mẫu đúng số trang và kiểu đóng, không chốt bằng tờ giấy rời.
Quy cách khác: In Catalogue Gáy lò xo · In Catalogue kim giữa.
Ký hiệu C150, C200 chỉ nói loại giấy và khối lượng, chưa nói độ dày, độ cứng hay độ che. Bài này tách các yếu tố đó để chọn giấy bìa và giấy ruột; nếu đang cân nhắc khổ thành phẩm, xem hướng dẫn chọn catalogue A4 hay A5.
Ký hiệu C150, C200, C300 và độ dày thường gặp
Chữ C chỉ giấy Couche, giấy có lớp tráng phủ cho màu ảnh tươi và chi tiết rõ; Couche có loại bóng (gloss) và mờ. Con số là định lượng tính bằng gam trên mét vuông (gsm): C150 nặng 150 g/m², C300 nặng 300 g/m². Gsm không phải độ dày; cùng 150 gsm, Couche mờ thường dày hơn Couche bóng một chút.
| Ký hiệu | Độ dày thường gặp | Vai trò hay dùng | 注意事项 |
|---|---|---|---|
| C150 | 0,13–0,15 mm | Ruột catalogue nhiều trang, kim giữa, gáy keo | Ảnh tối tràn trang có thể lộ bóng sang mặt sau |
| C200 | 0,17–0,19 mm | Ruột ảnh lớn, cuốn ít trang cần dày tay | Cuốn kim giữa nhiều trang bị phồng ở gáy gấp |
| C250 | 0,22–0,24 mm | Bìa mềm cho cuốn kim giữa mỏng | Cần cấn trước khi gấp |
| C300 | 0,27–0,30 mm | Bìa gáy keo, lò xo, cuốn cần đứng dáng | Gấp không cấn sẽ nứt nền màu ở nếp |
Giấy ruột: chọn theo ảnh, chữ và số trang
Ruột là phần người xem lật nhiều nhất, nên quyết định ruột trước rồi mới chọn bìa tương xứng. Ba câu hỏi đủ để chọn: ảnh có tràn trang và tối màu không, mặt sau có chữ nhỏ hay bảng mã không, và cuốn dày bao nhiêu trang.
Ảnh tràn trang và bóng hình mặt sau
Catalogue nội thất, vật liệu, thời trang thường có ảnh tối phủ kín trang. Trên C150, mảng tối đậm có thể hiện bóng mờ ở mặt sau khi soi dưới đèn, làm bảng mã hoặc chữ trắng ở trang kế bên khó đọc. Có ba cách xử lý: tăng ruột lên C200, sắp hai trang ảnh tối đối lưng nhau, hoặc đặt bảng chữ ở trang không có ảnh tối phía sau. Catalogue chủ yếu chữ và ảnh nhỏ minh họa thì C150 đủ.
Phân biệt bóng hình với dấu truyền mực: bóng hình nhìn thấy khi soi sáng, sờ không thấy gì; dấu truyền là mực của trang này dính sang trang kia, sờ thấy hoặc nhìn nghiêng thấy vệt. Bóng hình xử lý bằng giấy hoặc bố cục, dấu truyền xử lý ở khâu sản xuất.
Số trang, độ dày và khối lượng cuốn
Ví dụ catalogue A4 (210 × 297 mm, diện tích một tờ 0,0624 m²) có 28 trang ruột và bìa 4 trang:
- Ruột 28 trang là 14 tờ A4. Với C150: 14 × 0,0624 × 150 ≈ 131 g. Với C200: ≈ 175 g.
- Bìa 4 trang C300: 2 × 0,0624 × 300 ≈ 37 g.
- Mỗi cuốn khoảng 168 g (ruột C150) hoặc 212 g (ruột C200). 500 cuốn chênh nhau khoảng 22 kg.
Khối lượng dùng để so phương án và tính số thùng, không thay báo giá vận chuyển. Độ dày cuốn tính tương tự: số tờ × độ dày một tờ. Cách đếm trang khi đóng cuốn có trong bài cách tính số trang catalogue.

Giấy bìa theo kiểu đóng
Bìa phải đứng dáng khi cầm, nhưng còn phải gấp, ôm gáy hoặc đục lỗ được. Kiểu đóng quyết định khoảng định lượng hợp lý. Nếu đang cân nhắc bìa bồi cứng thay vì bìa giấy, đối chiếu catalogue bìa cứng và bìa mềm theo cách sử dụng.
Kim giữa: bìa gấp cùng ruột
Kim giữa gấp các tờ lồng vào nhau và ghim qua nếp gấp, nên tổng số trang (gồm bìa) phải chia hết cho 4. Bìa C250 hoặc C300 cán màng một mặt, cấn trước khi gấp. Với ruột C150, kim giữa thường hợp đến khoảng 48–64 trang; dày hơn, gáy gấp phồng và cuốn khó khép phẳng. Các tờ lồng càng nhiều thì trang giữa càng bị đẩy ra ngoài: 12 tờ C150 lồng nhau lệch khoảng 1,5–2 mm ở mép ngoài, cần bù khi bình trang và giữ chữ cách mép xén.
Gáy keo: bìa ôm gáy vuông
Gáy keo dán tập ruột vào bìa có sống gáy vuông, hợp catalogue từ khoảng 40 trang trở lên. Bề rộng gáy = số tờ ruột × độ dày một tờ, cộng phần bìa. Ví dụ 96 trang ruột C150 là 48 tờ × 0,14 mm ≈ 6,7 mm; đổi sang C200 thành khoảng 8,6 mm, nên file bìa phải dàn lại khi đổi giấy ruột. Bìa C300 cán màng mặt ngoài; vùng dán gáy ở mặt trong để trơn vì keo bám kém trên màng cán. Gáy keo không mở phẳng; ảnh chạy qua giữa hai trang mất một phần ở gáy.
Lò xo: bìa rời và lề đục lỗ
Lò xo cho cuốn mở phẳng và lật 360°, hợp catalogue tra cứu trên bàn, bảng giá, mẫu vật liệu. Bìa C300 cán màng, có thể thêm tấm nhựa trong bảo vệ. Ruột C150–C200 hoặc giấy Fort 100–120 gsm cho trang cần ghi chú. Dải đục lỗ chiếm lề gáy, nên chừa lề trong khoảng 12–15 mm (thường gặp), không đặt mã hàng hay cột bảng ở vùng đó.
Cán mờ hay cán bóng trên bìa
Cán mờ giảm phản xạ, hợp bìa nhiều chữ, ảnh tông trầm và catalogue nhân viên cầm đi gặp khách vì ít lộ vân tay. Cán bóng làm màu đậm, ảnh sản phẩm bóng bẩy hơn nhưng lóa dưới đèn showroom và xước dễ thấy. Cả hai chỉ phủ mặt in: mép xén và gáy vẫn là giấy trần, nên catalogue để nơi ẩm vẫn có thể cong mép.

Bốn tổ hợp bìa và ruột thường dùng
| 情况 | 内页 | 封面 | 装订方式 |
|---|---|---|---|
| Nhân viên mang đi gặp khách, A4 24–40 trang | C150 mờ | C250–C300 cán mờ | 骑马钉 |
| Vật liệu, nội thất ảnh lớn, A4 40–96 trang | C200 | C300 cán mờ | 胶装 |
| Phát tại sự kiện, A5 12–24 trang, số lượng nhiều | C150 | C200–C250 cán mờ | 骑马钉 |
| Trưng bày, tra cứu trên bàn showroom | C150–C200, trang ghi chú dùng Fort 100–120 | C300 cán mờ | 线圈装订 |
Bảng là điểm khởi đầu để làm cuốn mẫu, không phải quy cách cố định. Dịch vụ theo kiểu đóng có tại catalogue kim giữa, catalogue gáy keo và catalogue gáy lò xo.
Thử mẫu: mỗi lần đổi một yếu tố
Ảnh chụp điện thoại không cho biết độ cứng hay độ rủ của giấy. Thử trên cuốn mẫu đúng khổ, đủ số trang và kiểu đóng. Giữ ruột cố định khi so bìa, giữ bìa cố định khi so ruột; đổi cả giấy ruột lẫn lớp cán bìa trong một lần thử thì không biết khác biệt đến từ đâu.
- Nhìn: soi một cặp trang ảnh tối và trang chữ nhỏ dưới đèn trần để kiểm bóng hình.
- Lật: cầm cuốn một tay, lật 10 trang liên tiếp; trang quá mềm dễ lật nhầm hai trang, quá cứng làm trang đầu bật lên.
- Gấp và đóng: kiểm nếp gấp bìa sau cấn có nứt nền màu không, mép xén có sờn không.
- Cân: cân cuốn mẫu, nhân số lượng để tính số thùng và khối lượng giao.
Ghi chú tay, sắc trắng và màu ảnh
Couche bóng gần như không nhận bút bi; Couche mờ viết được nhưng dễ lem với bút gel; giấy Fort viết êm và không lem. Nếu catalogue chỉ có một trang phiếu đặt hàng cần ghi, in trang đó trên Fort hoặc làm phiếu rời, không cần đổi cả ruột. Bìa cán màng không viết được.
Sắc trắng của giấy bìa và giấy ruột có thể khác nhau dù cùng là Couche, nên cùng một ảnh in trên bìa và ruột trông lệch tông nhẹ. Đây là khác biệt vật liệu, không phải lỗi file. Phần chuyển màu RGB sang CMYK có trong bài màu CMYK khi in catalogue.
Giấy, báo giá, tiến độ và giao nhận
Đổi giấy làm thay đổi giá giấy, khối lượng giao và với gáy keo là cả bề rộng gáy. Đơn thường có file và quy cách đã chốt in xong khoảng 2 giờ; đơn nhiều cuốn, gáy keo số lượng lớn hoặc đổi giấy ngoài cấu hình được hẹn lịch cụ thể. Đơn đặt cọc 70% khi chốt. Nhận tại 441/31 Điện Biên Phủ, phường Thạnh Mỹ Tây, TP.HCM hoặc 37A Nguyễn Đình Chiểu, phường Sài Gòn, TP.HCM. Nhà in Phát hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển. Xem toàn bộ quy cách tại danh mục in catalogue.
Khóa vật liệu khi tái bản
Ghi “C150 như lần trước” chưa đủ. Phiếu đặt nên ghi: loại Couche (bóng hay mờ), gsm của bìa và ruột, lớp cán bìa, kiểu đóng, số trang và khổ. Giữ một cuốn của lần in trước làm mẫu đối chiếu. Nếu giấy cùng gsm nhưng khác mã hoặc khác lô, kiểm lại bóng hình mặt sau và sắc trắng trên một cặp trang trước khi in cả lô.
Câu hỏi khi chọn giấy bìa và ruột catalogue
Định lượng, độ dày gáy, bóng hình và kiểu đóng.
Ruột catalogue nhiều chữ và bảng nên chọn Couche bóng hay Couche mờ?
Couche mờ: ít lóa dưới đèn, bảng và chữ nhỏ dễ đọc, viết được bút bi; cùng gsm, giấy mờ thường dày hơn giấy bóng một chút. Couche bóng hợp catalogue ảnh sản phẩm cần màu đậm, bóng. Catalogue có cả hai loại trang thường chọn mờ cho toàn ruột.
Bìa catalogue kim giữa nên dùng C250 hay C300?
Cuốn dưới khoảng 24 trang dùng C250 gấp gọn và khép phẳng hơn. Cuốn 32–64 trang hoặc cần đứng dáng khi cầm dùng C300. Cả hai cần cấn trước khi gấp và cán màng một mặt để nếp không nứt màu.
Gáy keo 96 trang ruột C150 thì gáy dày bao nhiêu?
Khoảng 7 mm: 48 tờ × khoảng 0,14 mm là 6,7 mm, cộng bìa. Đổi ruột sang C200 gáy tăng lên khoảng 9 mm, nên phải dàn lại file bìa trước khi in.
Ảnh tối tràn trang trên C150 bị lộ bóng sang mặt sau thì xử lý thế nào?
Tăng ruột lên C200, hoặc sắp hai trang ảnh tối đối lưng nhau, hoặc chuyển bảng chữ sang trang không có ảnh tối phía sau. Kiểm trên cặp trang mẫu in hai mặt dưới đèn trần, không kiểm trên tờ trắng.
Catalogue kim giữa tối đa bao nhiêu trang?
Với ruột C150, thường hợp đến khoảng 48–64 trang. Dày hơn, gáy gấp phồng, trang giữa bị đẩy ra ngoài 1,5–2 mm trở lên và cuốn khó khép; nên chuyển sang gáy keo. Tổng số trang kim giữa phải chia hết cho 4.
Bìa gáy keo đã cán màng có dán gáy chắc không?
Cán màng mặt ngoài bìa thì không ảnh hưởng. Vùng dán gáy ở mặt trong bìa cần để giấy trơn, vì keo bám kém trên màng cán. Nếu thiết kế có in nền ở mặt trong bìa, chừa trống dải gáy.
Catalogue cần ghi chú bằng bút bi thì giấy ruột nào viết được?
Giấy Fort 100–120 gsm viết êm, không lem; Couche mờ viết được bút bi nhưng dễ lem với bút gel; Couche bóng và bìa cán màng gần như không viết được. Nếu chỉ một trang cần ghi, in trang đó trên Fort hoặc làm phiếu rời.
500 cuốn catalogue A4 nặng khoảng bao nhiêu để tính giao hàng?
Cuốn 28 trang ruột C150 kèm bìa C300 nặng khoảng 168 g, 500 cuốn khoảng 84 kg. Ruột C200 tăng lên khoảng 212 g mỗi cuốn, 500 cuốn khoảng 106 kg. Cân cuốn mẫu thật để có số chính xác.

