名片印刷用艺术纸:纸张系列、纹理与克重
Giấy mỹ thuật in name card chia thành năm dòng: giấy có vân, giấy ánh trai hoặc ánh kim, giấy kraft, giấy màu và giấy trơn mịn không tráng phủ, thường ở định lượng 250–350 gsm. Chọn dòng giấy theo chữ nhỏ nhất trên thẻ và gia công cần dùng (ép kim, mực trắng), rồi chốt một mã giấy cụ thể bằng mẫu thật. Name card tại Nhà in Phát có khổ chuẩn 88 × 53 mm; đặt in tại trang In Name Card Giấy Mỹ Thuật.
Nếu chưa quyết được giữa giấy tráng phủ và giấy mỹ thuật, đọc bài chọn giấy in danh thiếp Couche hay giấy mỹ thuật; khi đã chọn giấy mỹ thuật, các phần dưới đây giúp thu hẹp xuống vài mẫu để xem tận tay.
BẢN ĐỒ CÁC DÒNG GIẤY
Năm dòng giấy mỹ thuật dùng cho name card
“Giấy mỹ thuật” là tên nhóm, không phải một loại giấy. Mỗi dòng dưới đây có hàng chục mã, khác nhau về màu nền, độ sâu vân và độ dày. Dòng giấy giúp thu hẹp lựa chọn; mã giấy mới là thứ được in.
Giấy có vân: sần, gân, linen
Bề mặt có kết cấu sờ thấy được: sần như vỏ trứng, gân song song, đan chéo như vải linen. Mực in nằm trên đỉnh vân và lọt ít vào rãnh, nên mảng màu đặc nhìn hơi lấm tấm, chữ nhỏ có mép răng cưa nhẹ. Vân càng sâu, chữ càng phải to và đậm.
Giấy ánh trai và ánh kim
Mặt giấy có lớp ánh như xà cừ hoặc kim loại, đổi sắc theo góc nhìn. Màu in nhìn dịu hơn trên Couche vì ánh nền xuyên qua mực. Phần nào trong thiết kế để trắng sẽ hiện màu ánh của giấy, không phải màu trắng. Bề mặt này khó viết bằng bút bi.
牛皮纸
Giấy nâu, sợi dài, dai tay. Kraft không đồng nghĩa giấy tái chế; nó là giấy làm từ bột hóa học. Vì nền nâu, màu CMYK in lên trầm hẳn: đỏ thành nâu đỏ, xanh dương thành xanh xám. Kraft hợp thiết kế 1–2 màu đậm (đen, nâu sẫm, xanh đen) hoặc chữ trắng in bằng mực trắng.
Giấy màu
Giấy nhuộm sẵn màu trong ruột: ngà, kem, xám, xanh rêu, đỏ rượu, đen. Màu nền đều hơn in phủ nền và không lộ viền trắng ở mép cắt. Giấy tông sáng in màu bình thường; giấy tông đậm cần mực trắng hoặc ép kim mới thấy chữ.
Giấy trơn mịn không tráng phủ
Mặt nhẵn nhưng không bóng, sờ mềm như giấy viết cao cấp. Chữ nhỏ rõ nhất trong năm dòng, viết bút bi tốt. Màu in dịu hơn Couche vì mực thấm nhẹ vào sợi giấy.
SO SÁNH NHANH
Bảng chọn dòng giấy theo thiết kế
| Dòng giấy | Màu CMYK in lên | Chữ nhỏ nên từ | Gia công hợp | Không nên chọn khi |
|---|---|---|---|---|
| Có vân (sần, gân, linen) | Dịu, mảng đặc hơi lấm tấm | 7 pt, nét đậm vừa | Ép kim chữ đậm | Thẻ nhiều chữ 6 pt, font chân mảnh |
| Ánh trai, ánh kim | Dịu, vùng trắng thành màu ánh | 7 pt | Ép kim, in màu đậm | Cần ghi lịch hẹn bằng bút bi |
| 牛皮纸 | Trầm, ngả nâu | 7 pt, màu đậm | Mực trắng, ép kim, in 1–2 màu | Logo nhiều màu tươi phải đúng mã màu |
| Giấy màu | Theo màu nền; nền đậm cần trắng | 6–7 pt (nền sáng), 8 pt chữ trắng | Mực trắng, ép kim | Logo trùng màu giấy |
| Trơn mịn không tráng phủ | Dịu, ổn định | 6 pt | Ép kim nét mảnh, in màu | Cần màu ảnh rực như Couche |
Một thiết kế in trên hai dòng giấy là hai cấu hình khác nhau: cùng file, logo xanh trên giấy trơn trắng và trên kraft sẽ ra hai màu.
ĐỊNH LƯỢNG VÀ KHỔ
Định lượng, độ dày và khổ file
Gsm là khối lượng giấy trên một mét vuông, không phải độ dày. Cùng 300 gsm, giấy mỹ thuật không tráng phủ thường dày tay hơn Couche vì sợi xốp hơn. Mốc chọn thường gặp:
- 250 gsm: mềm, hợp thẻ đi kèm quà, kẹp vào thiệp.
- 300 gsm: độ cứng phổ biến của danh thiếp, bỏ ví không gãy.
- 350 gsm: cứng tay, cạnh chắc; thẻ dày hơn nên hộp 100 tấm sẽ cao hơn.
- Bồi hai lớp: dán hai tờ thành một tấm rất dày, có thể hai mặt hai màu giấy. Bồi là công đoạn riêng nên lịch nhận hẹn theo đơn.
Khổ thành phẩm 88 × 53 mm. Dựng file 92 × 57 mm (tràn lề 2 mm mỗi cạnh), giữ chữ và logo cách đường cắt ít nhất 3 mm, tức nội dung nằm trong khoảng 82 × 47 mm. Nền giấy màu không cần in phủ nền, nhưng nếu file có mảng màu chạm mép thì vẫn cần tràn lề.
CHỮ NHỎ VÀ MÃ QR
Chữ nhỏ, nét mảnh và mã QR trên giấy mỹ thuật
- Số điện thoại, email: từ 7 pt trên giấy vân, ánh và kraft; 6 pt chỉ dùng trên giấy trơn mịn.
- Nét kẻ, viền: từ 0,25 pt (khoảng 0,1 mm). Nét mảnh hơn dễ đứt trên đỉnh vân.
- Font có chân mảnh (serif nét tương phản cao) trên giấy linen: tăng lên 8 pt hoặc dùng bản đậm hơn.
- Chữ trắng lọt lòng trong mảng màu in: từ 8 pt, kiểu đậm, vì mực tràn nhẹ vào rãnh vân sẽ lấp nét.
- Dấu tiếng Việt: kiểm riêng dấu hỏi, ngã ở 7 pt; đây là chỗ mất nét đầu tiên trên giấy sần.
Mã QR cạnh tối thiểu 15 mm trên giấy trơn; trên giấy vân sâu, ánh hoặc kraft nên 18 mm, mã màu đen hoặc màu đậm, có vùng trống quanh mã. Quét thử trên bản in thật bằng hai điện thoại khác nhau.
GIA CÔNG
Ép kim, mực trắng và cán màng theo dòng giấy
Ép kim: lá nhũ ép nhiệt bằng khuôn, phẳng trên bề mặt. Trên giấy vân, lá nhũ chỉ bám đỉnh vân nên nét mảnh dễ đứt; giữ nét ép từ khoảng 0,3 mm và khe hở giữa các nét cũng từ 0,3 mm. Trên giấy ánh kim, ép kim cùng tông sẽ chìm; chọn màu nhũ tương phản (nhũ vàng trên giấy đen, nhũ bạc trên giấy xanh đậm). File ép kim là lớp vector riêng, một màu đặc 100%. Cách phối ép kim với cán màng xem bài chọn ép kim và cán màng cho danh thiếp.

Mực trắng: dùng cho giấy đen, giấy màu đậm và kraft. Lớp trắng là một layer riêng, tô màu pha đặt tên (ví dụ “White”); chữ tô trắng thông thường trong file sẽ không in. Cách chọn giấy tối màu cho mực trắng có trong bài chọn giấy mỹ thuật tối màu cho in mực trắng.

Cán màng: màng phủ lên làm mất cảm giác vân và ánh, tức mất lý do chọn giấy mỹ thuật. Thường không cán; nếu thẻ phải chịu ma sát nhiều, chọn giấy trơn mịn dày 350 gsm thay vì cán giấy vân.
KHI NÀO ĐỔI HƯỚNG
Khi nào không nên chọn giấy mỹ thuật
- Thẻ có ảnh chân dung hoặc ảnh sản phẩm cần màu rực và chi tiết: Couche cán màng cho kết quả tốt hơn.
- Logo nhiều màu tươi phải đúng mã màu thương hiệu: giấy màu, kraft và ánh trai đều làm lệch màu.
- Thẻ có trên 8 dòng chữ, chữ 6 pt: chỉ giấy trơn mịn giữ được độ rõ.
- Người dùng thường ghi lịch hẹn lên thẻ: tránh giấy ánh, ánh kim.
Trong các trường hợp này, trang In Name Card có các cấu hình giấy và gia công khác để so sánh. Bạn vẫn có thể dùng giấy mỹ thuật cho một nhóm thẻ, như thẻ của giám đốc hoặc thẻ kèm quà, và giữ cấu hình thông thường cho phần còn lại.
XEM MẪU VÀ ĐẶT IN
Xem mẫu giấy thật rồi gửi yêu cầu in
Mang theo bản in giấy thường của thiết kế ở đúng 100% (88 × 53 mm) để đặt lên từng mẫu giấy. Xem dưới ánh sáng ban ngày và dưới đèn nơi thẻ thường được trao, nghiêng thẻ để xem chữ trên giấy ánh. Ghi lại mã giấy, định lượng và mặt giấy (một số giấy hai mặt khác vân), vì “giấy vân trắng” không đủ để đặt lại lần sau.
Khi gửi yêu cầu, ghi: mã giấy, số mặt in, có ép kim hay mực trắng, số tấm mỗi người. Kiểm file và tư vấn giấy là miễn phí; nhân viên kiểm chữ nhỏ, nét mảnh và lớp gia công theo mã giấy đã chọn. Giấy đặc biệt, ép kim và bồi được hẹn lịch theo đơn, không theo mốc khoảng 2 giờ của đơn thường. Đặt cọc 70% khi chốt đơn.
Bạn có thể nhận thành phẩm tại 441/31 Điện Biên Phủ, Phường Thạnh Mỹ Tây, TP.HCM (xem trang in nhanh Bình Thạnh) hoặc 37A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Sài Gòn, TP.HCM (xem trang in nhanh Phường Sài Gòn). Nhà in Phát hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.
Câu hỏi khi chọn dòng giấy mỹ thuật cho name card
Định lượng, cỡ chữ, mã QR, ép kim và mực in trên từng dòng giấy.
Name card giấy mỹ thuật nên chọn 250, 300 hay 350 gsm?
300 gsm là mức phổ biến, đủ cứng để bỏ ví. 250 gsm mềm hơn, hợp thẻ kẹp kèm quà hoặc thiệp. 350 gsm cứng tay, cạnh chắc; muốn dày hơn nữa thì hỏi phương án bồi hai lớp, lịch nhận hẹn theo đơn.
Font có chân mảnh của thương hiệu dùng được trên giấy vân linen không?
Dùng được cho tên và chức danh từ khoảng 8 pt; nét ngang mảnh dưới 0,1 mm dễ đứt trên rãnh vân. Phần số điện thoại, email nên chuyển sang bản đậm hơn của font hoặc một font không chân đi kèm, từ 7 pt.
Mã QR trên name card giấy kraft hoặc giấy vân cần cạnh tối thiểu bao nhiêu?
Nên từ 18 mm, in màu đen hoặc màu đậm, chừa vùng trống quanh mã. Trên giấy trơn mịn có thể xuống 15 mm. Quét thử trên bản in thật bằng hai điện thoại khác nhau trước khi in cả lô.
Ép kim trên giấy vân thì nét mảnh nhất là bao nhiêu?
Thường từ khoảng 0,3 mm cho nét ép và 0,3 mm cho khe hở giữa các nét. Lá nhũ chỉ bám đỉnh vân, nên chữ ép dưới 7 pt hoặc nét mảnh hơn dễ đứt. Chọn bản chữ đậm cho phần ép kim.
Name card kraft nên in mấy màu mực?
Thường 1–2 màu đậm như đen, nâu sẫm, xanh đen; màu tươi in CMYK lên nền nâu sẽ trầm hẳn. Muốn chữ sáng màu, dùng mực trắng hoặc ép kim thay vì in vàng, hồng nhạt bằng CMYK.
In logo lên giấy ánh trai thì phần trắng trong logo hiện ra thế nào?
Phần để trắng trong file sẽ hiện màu ánh của giấy, không phải trắng, vì in CMYK không có mực trắng. Nếu logo cần trắng rõ, phải thêm lớp mực trắng hoặc chọn giấy trơn trắng.
Name card giấy mỹ thuật có bo góc được không?
Bo góc có trong danh sách gia công name card. Nhà in Phát bo góc R10 (bán kính 10 mm); giữ chữ và viền khung cách góc đủ xa để phần bo không cắt vào nội dung. Với thẻ bồi hai lớp, báo trước khi đặt vì tấm dày bo khó hơn.

