Chọn Giấy In Bản Vẽ: Độ Đọc, Ghi Chú, Gấp Bộ Và Trình Bày
Bản vẽ kỹ thuật nét đen trắng thường in trên giấy Fort 80–120 gsm: mặt nhám, nét rõ, viết bút được và gấp gọn về A4. Tờ phối cảnh, mặt đứng màu và ảnh vật liệu in trên Couche mờ hoặc giấy ảnh để màu và chuyển sắc mịn hơn. Bìa bộ hồ sơ dùng Bristol hoặc Couche khoảng 300 gsm. Chọn giấy theo việc người nhận sẽ làm với tờ giấy, không theo định lượng cao nhất.
Bài viết giúp chọn giấy in bản vẽ A0-A3 theo công việc. Khi đã có file và nhu cầu, gửi yêu cầu tại dịch vụ in và photo bản vẽ kiến trúc của Nhà in Phát. Cách kiểm file nguồn có hướng dẫn riêng trong bài chuẩn bị bản vẽ AutoCAD A0-A3; chọn khổ xem bài chọn khổ A0, A1, A2, A3, còn chọn in đen trắng hay màu xem bài in bản vẽ trắng đen hay màu.
BẢNG CHỌN NHANHGiấy in bản vẽ theo mục đích sử dụng
| 用途 | 常用纸张 | 优点 | Hạn chế |
|---|---|---|---|
| Bản vẽ kỹ thuật nét, đọc và ghi chú | Fort 80–100 gsm 书写纸 | Nét đen sắc, mặt nhám viết bút bi, bút chì được; gấp gọn | Màu và ảnh trên giấy không tráng phủ bị dịu, kém tươi |
| Bộ bản vẽ mở nhiều lần, mang ra công trường | Fort 100–120 gsm 书写纸 | Cứng tay hơn, ít nhàu và rách mép khi gấp mở | Bộ A0 gấp về A4 dày hơn |
| Phối cảnh, mặt đứng màu, ảnh vật liệu | Couche mờ 150–300 gsm hoặc giấy ảnh | Màu tươi, chuyển sắc mịn, vùng tối giữ chi tiết | Khó viết bút bi; gấp nhiều dễ nứt màu ở nếp |
| Bìa bộ hồ sơ | Bristol hoặc Couche khoảng 300 gsm, có thể cán màng | Bảo vệ ruột, đứng dáng khi đóng | Chỉ dùng cho bìa, không dùng cho tờ cần gấp |
Giấy can (giấy trong mờ) và các vật liệu đặc biệt khác không có trong quy cách mặc định; nếu hồ sơ yêu cầu, hỏi nhân viên trước khi chốt file.
HIỂU ĐÚNG THÔNG SỐĐịnh lượng gsm không phải độ dày
gsm là khối lượng giấy trên một mét vuông, không phải độ dày. Cùng 120 gsm, giấy Fort không tráng phủ thường dày tay và xốp hơn Couche tráng phủ. Định lượng cao hơn cũng không làm nét rõ hơn: nét mảnh phụ thuộc file nguồn và bề mặt giấy. Với bản vẽ, tăng gsm chủ yếu thay đổi độ cứng khi cầm, độ dày bộ sau khi gấp và khối lượng khi gửi.
Ví dụ dễ hình dung: một tờ A0 có diện tích khoảng 1 m², nên tờ Fort 100 gsm nặng khoảng 100 g. Bộ 30 tờ A0 khoảng 3 kg giấy, chưa tính bìa và bao gói. Đổi sang 120 gsm thì bộ nặng thêm khoảng một phần năm.
ĐỌC NÉT VÀ GHI CHÚGiấy Fort cho bản vẽ nét và ghi chú
Fort là giấy offset không tráng phủ, mặt nhám. Mực đen bám đều, nét mảnh và chữ nhỏ đọc rõ khi nhìn gần, không bị lóa dưới đèn văn phòng hay ngoài công trường. Mặt nhám nhận bút bi, bút chì và bút dạ, nên đây là lựa chọn cho tờ dùng để đánh dấu sửa đổi, ghi khối lượng hoặc ký duyệt.
Fort 80 gsm nhẹ, tiết kiệm cho bản lưu hoặc bản phát nhiều người. Fort 100–120 gsm cứng hơn, chịu được việc gấp mở nhiều lần. Giấy không tự sửa nét đã mất trong PDF: nếu file xuất sai độ dày nét hoặc nét quá mảnh, đổi sang giấy dày hơn không giúp đọc rõ hơn. Kiểm file trước, sau đó in thử một tờ có vùng nhiều đường giao nhau, chữ nhỏ và hatch.

Couche và giấy ảnh cho tờ phối cảnh
Tờ phối cảnh có chuyển sắc, vùng tối và ảnh vật liệu. Trên Fort, mực thấm vào sợi giấy nên màu dịu và vùng tối dễ bệt. Couche tráng phủ giữ mực trên bề mặt, cho màu tươi và chi tiết rõ; bản mờ ít lóa khi treo dưới đèn, bản bóng rực hơn nhưng phản sáng. Giấy ảnh cho chuyển sắc mịn nhất, hợp tờ trình bày treo bảng hoặc đặt trên giá.
Ảnh phối cảnh nên khoảng 300 ppi tại kích thước in cho khổ A3, A2; với A1, A0 nhìn ở khoảng cách đứng, khoảng 150–200 ppi tại kích thước thật thường đủ. Màu trên giấy và màn hình khác nhau; nếu màu vật liệu quan trọng, duyệt mẫu trên đúng giấy. Bản in hỗ trợ trình bày, không thay mẫu vật liệu thật. Nhu cầu phối cảnh chuyên sâu xem in đồ án kiến trúc và phối cảnh.
Bộ hồ sơ có cả tờ nét và tờ màu
Không bắt buộc cả bộ dùng một loại giấy. Cách hay dùng là tờ kỹ thuật in Fort, tờ phối cảnh in Couche mờ, rồi ráp chung. Khi đó, danh mục gửi in cần ghi mã tờ, khổ, giấy và số bản của từng nhóm để nhân viên in và ráp đúng thứ tự. Nếu bên nhận hồ sơ quy định một loại giấy cho toàn bộ, làm theo quy định đó.
GẤP VÀ ĐÓNG BỘGiấy cho bộ bản vẽ cần gấp về A4
Tờ A0 gấp về A4 tạo khoảng 16 lớp giấy chồng lên nhau ở mỗi tờ. Giấy càng dày, bộ càng cộm, khó cho vào bìa và khó mở. Fort 80–100 gsm gấp gọn nhất. Couche dày và giấy ảnh gấp nhiều lần dễ nứt màu ở nếp, nên tờ phối cảnh lớn nên giữ phẳng hoặc cuộn ống. Nếu buộc phải gấp tờ màu, tránh để nếp đi qua chi tiết quan trọng. Cách gấp và lưu bộ xem thêm bài gấp bản vẽ A0, A1 về A4.

Đóng cuốn hồ sơ bản vẽ
Bộ A3, A4 thường đóng gáy lò xo, gáy xoắn hoặc keo nhiệt, bìa Bristol hoặc Couche khoảng 300 gsm. Chừa lề trái rộng hơn cho phần đóng; không tự thu nhỏ bản vẽ để có chỗ gáy khi tỷ lệ in là yêu cầu của hồ sơ. Bộ cần thay tờ thường xuyên nên chọn kiểu đóng tháo được. Khi đóng thành cuốn, xem thêm in và đóng hồ sơ thiết kế, hoàn công.
THỬ VÀ ĐẶT INCách so hai loại giấy cho đúng
Dùng cùng một file, cùng khổ, cùng chế độ in cho hai mẫu giấy; chỉ thay giấy. Chọn tờ đại diện có chữ nhỏ, đường giao, hatch và nếu có, một vùng ảnh. Ghi trước tiêu chí: đọc mã, viết bút, gấp, xem ảnh. Ảnh chụp mẫu qua điện thoại không cho biết độ lóa, cảm giác gấp hay khả năng viết, nên tiêu chí nào quan trọng thì xem mẫu thật.
Thông tin gửi nhân viên và giao nhận
Gửi file PDF cuối, danh mục mã tờ và khổ, số bộ, chế độ đen trắng hoặc màu, giấy cho từng nhóm tờ, cách gấp hoặc đóng và ngày cần nhận. Giá theo số lượng và quy cách.
Nhà in Phát tham chiếu khoảng 2 giờ sản xuất cho đơn thông thường sau khi file và quy cách được xác nhận; đơn nhiều bộ khổ lớn hoặc có đóng cuốn được hẹn lịch cụ thể. Hai cơ sở là 37A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Sài Gòn, TP.HCM và 441/31 Điện Biên Phủ, Phường Thạnh Mỹ Tây, TP.HCM. Nhà in Phát hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.
Câu hỏi khi chọn giấy in bản vẽ
Fort, Couche, giấy ảnh và bìa cho bộ bản vẽ A0–A3.
Bản vẽ kỹ thuật đen trắng nên in giấy gì?
Thường là Fort 80–100 gsm. Mặt nhám cho nét đen rõ, không lóa và viết bút được. Bộ mở gấp nhiều lần ngoài công trường có thể chọn Fort 100–120 gsm để ít rách mép.
Fort 80 gsm và 120 gsm khác nhau thế nào khi in bản vẽ?
120 gsm cứng tay hơn, chịu gấp mở nhiều lần, nhưng bộ A0 gấp về A4 dày và nặng hơn. 80 gsm nhẹ, gấp gọn, hợp bản lưu và bản phát nhiều người. Độ rõ nét gần như không khác vì phụ thuộc file.
Tờ phối cảnh nên in Couche mờ hay giấy ảnh?
Couche mờ hợp tờ đóng trong bộ hồ sơ vì ít lóa và nhẹ hơn. Giấy ảnh cho chuyển sắc mịn nhất, hợp tờ trình bày treo bảng hoặc đặt giá. Cả hai đều khó viết bút bi.
Có nên gấp tờ phối cảnh in giấy ảnh về A4?
Không nên nếu tránh được. Giấy ảnh và Couche dày gấp nhiều lần dễ nứt màu ở nếp. Tờ phối cảnh lớn nên giữ phẳng hoặc cuộn ống khi giao.
Một bộ hồ sơ có thể in tờ nét và tờ màu trên hai loại giấy không?
Được, và thường hợp lý: tờ kỹ thuật in Fort, tờ phối cảnh in Couche mờ. Ghi rõ mã tờ, khổ và giấy của từng nhóm trong danh mục để in và ráp đúng thứ tự.
Bản vẽ A1 cần ảnh phối cảnh bao nhiêu ppi?
Khoảng 150–200 ppi tại kích thước in thật thường đủ cho A1, A0 nhìn ở khoảng cách đứng. A3, A2 xem gần nên khoảng 300 ppi. Nét và chữ bản vẽ kỹ thuật nên giữ vector.
Bộ A0 gấp về A4 bị quá dày, nên làm gì?
Giảm định lượng giấy tờ kỹ thuật về Fort 80–100 gsm, giữ phẳng hoặc cuộn các tờ màu dày, hoặc tách bộ thành nhiều tập. Không tự thu nhỏ bản vẽ nếu tỷ lệ là yêu cầu của hồ sơ.
Nhà in Phát có in bản vẽ trên giấy can không?
Giấy can không nằm trong quy cách mặc định. Nếu hồ sơ yêu cầu, hỏi nhân viên trước khi chốt file để được xác nhận khả năng và lịch.
Bìa bộ hồ sơ bản vẽ nên dùng giấy gì?
Bristol hoặc Couche khoảng 300 gsm, có thể cán màng để chống trầy và vết tay. Bìa chỉ bảo vệ ruột; không dùng giấy dày này cho tờ cần gấp.
Muốn tiết kiệm chi phí in bản vẽ nên bắt đầu từ đâu?
In đen trắng các tờ không cần màu, dùng Fort 80 gsm cho bản lưu, chỉ in màu và giấy Couche cho tờ phối cảnh thật sự cần trình bày. Giá theo số lượng và quy cách.

