图纸黑白打印还是彩色印刷:根据需要读取的信息选择
In trắng đen khi bản vẽ phân biệt thông tin bằng nét, kiểu đường và ký hiệu: mặt bằng, mặt cắt, kết cấu, chi tiết. In màu khi màu mang nghĩa: phân hệ điện nước, phần phá dỡ và xây mới, vùng vật liệu, phối cảnh. Với bản trắng đen, xuất bằng bảng nét monochrome.ctb để mọi màu thành đen 100%, giữ nét mảnh nhất từ 0,13 mm và vùng tô xám từ 30% trở lên.
Khi cần đặt sản xuất, xem dịch vụ in và photo bản vẽ kiến trúc A0-A3. Thiết lập tỷ lệ, khổ trang và bảng nét trong phần mềm vẽ có ở hướng dẫn chuẩn bị bản vẽ AutoCAD.
BA CÁCH XUẤTMonochrome, grayscale và màu khác nhau thế nào
Trong bản vẽ kỹ thuật, màu của đối tượng thường chỉ dùng để phân lớp khi vẽ. Bảng nét in (CTB) quyết định màu đó ra giấy thành gì:
- monochrome.ctb: mọi màu thành đen 100%. Nét vàng, xanh nhạt trên màn hình in ra đen đậm như nét đỏ. Đây là lựa chọn an toàn cho bản kỹ thuật.
- grayscale.ctb: mỗi màu thành một sắc xám theo độ sáng. Màu sáng ra xám rất nhạt, nên nét vàng hoặc cyan có thể gần như mất.
- Màu (acad.ctb hoặc dùng màu đối tượng): in đúng màu trên màn hình. Cần khi màu là thông tin, và cần giấy đủ trắng để màu phân biệt được.
Mức xám mà grayscale tạo ra cho các màu cơ bản, ước tính theo công thức độ sáng (phần mềm thực tế có thể lệch vài phần trăm):
| Màu trong phần mềm vẽ | Độ đậm khi in grayscale | Đọc trên giấy |
|---|---|---|
| Vàng (màu 2) | Khoảng 11% | Gần như mất, nhất là khi photo lại |
| Cyan (màu 4) | Khoảng 30% | Nhạt, chỉ đọc được với nét dày |
| Xanh lá (màu 3) | Khoảng 41% | Đọc được, dễ lẫn với cyan |
| Magenta (màu 6) | Khoảng 59% | Rõ |
| Đỏ (màu 1) | Khoảng 70% | Rõ, khó phân biệt với magenta |
| Xanh dương (màu 5) | Khoảng 89% | Gần đen |
Hai điều rút ra: đỏ và magenta ra gần cùng một mức xám, nên grayscale không giữ được phân biệt giữa hai hệ dùng hai màu này; và nét vàng in grayscale là nét gần như vô hình. Khi đã chọn trắng đen, dùng monochrome và phân biệt bằng nét, không bằng màu.
NGƯỠNG ĐỌC ĐƯỢCNét, chữ và độ xám tối thiểu
Bản trắng đen đọc được nhờ phân cấp độ dày nét. Dãy nét thường dùng theo ISO là 0,13 – 0,18 – 0,25 – 0,35 – 0,50 – 0,70 mm. Một mặt bằng rõ thường dùng ba đến bốn cấp: tường cắt 0,50–0,70 mm, cửa và thiết bị 0,25–0,35 mm, kích thước và hatch 0,13–0,18 mm.
- Nét mảnh nhất: từ 0,13 mm ở khổ in thật. Nét 0,09 mm hoặc nét “hairline” (độ dày 0) in ra rất mảnh, dễ đứt khi photo lại.
- Chữ nhỏ nhất: cao từ 2,5 mm trên tờ in thật. Bản A1 thu về A3 chỉ còn 50% cạnh, chữ 2,5 mm còn khoảng 1,25 mm; bản thu nhỏ cần dàn lại chữ hoặc chấp nhận là bản tham khảo.
- Vùng tô xám: từ 30–40% đọc rõ trên giấy Fort. Dưới 20% dễ mất khi photo tiếp từ bản in. Cột Screening trong CTB để 100 cho nét chính; chỉ giảm cho lớp nền như đường lưới, công trình lân cận.
Nếu bản in sẽ được photo lại ngoài công trường, ưu tiên monochrome và tránh mọi lớp xám dưới 30%.
BẢNG QUYẾT ĐỊNHChọn chế độ theo loại bản vẽ
| Loại tờ | Chế độ nên dùng | 条件 | 常用纸张 |
|---|---|---|---|
| Mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt kiến trúc | Trắng đen, monochrome | Có ít nhất 3 cấp nét; hatch vật liệu dùng mẫu khác nhau | Fort 80–100 gsm 书写纸 |
| Kết cấu, chi tiết thép, móng | Trắng đen, monochrome | Ký hiệu thép, trục, cao độ ghi bằng chữ | Fort 80–100 gsm 书写纸 |
| Điện, cấp thoát nước, điều hòa phối hợp trên một tờ | 颜色 | Có thể in trắng đen nếu mỗi hệ có kiểu đường và mã riêng | Fort 100–120 gsm 书写纸 |
| Hiện trạng, phá dỡ, xây mới | Màu, hoặc trắng đen có quy ước nét | Trắng đen: phá dỡ nét đứt, xây mới hatch đặc, giữ lại nét liền | Fort 80–120 gsm 书写纸 |
| Bản đồ phân khu, sử dụng đất theo bảng màu | 颜色 | Chú giải màu đi kèm từng tờ | Fort 120 gsm hoặc Couche |
| Phối cảnh, bảng vật liệu | 颜色 | Ảnh đủ 150–200 ppi ở khổ in | Couche hoặc giấy ảnh |
Khi nào màu thật sự cần
Màu cần khi hai thông tin nằm chồng lên nhau trên cùng một vùng và người đọc phải tách chúng nhanh: ống cấp nước đi cạnh ống thoát, tuyến điện động lực chạy song song tuyến chiếu sáng, phần đập bỏ chồng lên phần xây mới. Ở các tờ này, in trắng đen buộc người đọc dò từng ký hiệu.
Nếu ngân sách chỉ cho trắng đen, tách hệ bằng ba lớp nhận diện cùng lúc: kiểu đường (liền, đứt, chấm gạch), độ dày nét khác ít nhất một cấp, và mã chữ đặt dọc tuyến mỗi 50–80 mm trên giấy (ví dụ CN, TN, ĐL). Có đủ ba lớp này thì bản trắng đen vẫn đọc được khi photo lại.

Phối cảnh và vật liệu: in màu trên giấy phù hợp
Tờ phối cảnh, bảng vật liệu, ảnh hiện trạng in màu trên Fort sẽ xỉn và ngả xám vì giấy không tráng phủ hút mực. Dùng Couche hoặc giấy ảnh cho những tờ này; cách chuẩn bị phối cảnh cho đồ án có ở nội dung về in đồ án kiến trúc và phối cảnh.
Ảnh raster cần đủ pixel ở khổ in thật. Ở 150 ppi, tờ A1 594 × 841 mm cần khoảng 3.508 × 4.967 pixel; A3 297 × 420 mm cần khoảng 1.754 × 2.480 pixel. Ảnh nền vệ tinh hoặc ảnh chụp hiện trạng in trắng đen thường tối và đè lên nét; giảm độ đậm lớp ảnh xuống 30–50% trước khi xuất.
BỘ HỒ SƠBộ hồ sơ có cả tờ màu và tờ trắng đen
Một bộ 40 tờ thường chỉ có 5–8 tờ cần màu. In cả bộ màu làm tăng chi phí mà không thêm thông tin; in cả bộ trắng đen làm mất nghĩa ở vài tờ quan trọng. Cách gọn nhất là giữ một PDF theo đúng thứ tự bộ và gửi kèm danh sách trang màu, ví dụ “màu: trang 12, 15–18, 31; còn lại trắng đen”. Tờ màu và tờ trắng đen được ghép lại đúng vị trí khi đóng bộ.
Với hồ sơ thiết kế, hoàn công nhiều tập, xem thêm cách in và đóng hồ sơ thiết kế, hoàn công.

Trước khi in nhiều bộ, in một tờ mẫu đúng khổ chứa nét mảnh nhất, chữ nhỏ nhất và vùng xám nhạt nhất của bộ. Cách chọn và kiểm tờ mẫu có ở bài duyệt mẫu in bản vẽ.
ĐẶT INĐặt in bản vẽ tại Nhà in Phát
Gửi PDF đã xuất đúng khổ và tỷ lệ, ghi khổ in (A0 841 × 1189, A1 594 × 841, A2 420 × 594 hoặc A3 297 × 420 mm), số bộ, danh sách trang màu, loại giấy và yêu cầu gấp hoặc đóng. Bản vẽ trắng đen in trên Fort 80–120 gsm; tờ cần cứng hơn có thể dùng 150–180 gsm. Tài liệu thuyết minh A4 đi kèm đặt tại in tài liệu trắng đen.
Đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; bộ nhiều tờ khổ lớn được hẹn lịch theo số tờ. Đơn được đặt cọc 70%. Nhận tại 37A Nguyễn Đình Chiểu hoặc 441/31 Điện Biên Phủ; Nhà in Phát hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển. Gửi file tại trang in và photo bản vẽ tại Nhà in Phát.
Câu hỏi khi chọn in bản vẽ trắng đen hay màu
Bảng nét CTB, độ xám, nét mảnh và cách chia tờ màu trong một bộ.
Mặt bằng kiến trúc nên xuất bằng monochrome.ctb hay grayscale.ctb?
Monochrome. Bảng này biến mọi màu thành đen 100%, nét nào cũng rõ, phân cấp chỉ dựa vào độ dày nét. Grayscale biến màu sáng thành xám nhạt, nên nét vẽ bằng màu vàng hay cyan in ra gần như mất.
Vì sao nét màu vàng trong phần mềm vẽ in ra gần như không thấy?
Vì file được in bằng grayscale hoặc in màu trên giấy. Màu vàng có độ sáng rất cao, khi đổi sang xám chỉ còn khoảng 11% độ đậm. Đổi sang monochrome.ctb, hoặc gán bút in màu đen cho màu vàng trong bảng nét.
Nét 0,09 mm có in trắng đen được không?
In được nhưng rất mảnh, dễ đứt quãng và thường mất khi photo lại. Với bản cần đọc ngoài công trường, nét mảnh nhất nên từ 0,13 mm ở khổ in thật. Nét “hairline” độ dày 0 nên gán lại thành 0,13 mm trước khi xuất PDF.
Hatch tô xám bao nhiêu phần trăm thì photo lại vẫn còn thấy?
Từ khoảng 30–40%. Vùng tô dưới 20% trên bản in gốc thường nhạt dần hoặc mất hẳn qua lần photo kế tiếp. Nếu cần phân biệt vật liệu, dùng mẫu hatch khác nhau thay vì nhiều mức xám gần nhau.
Bộ 50 tờ chỉ có 5 tờ cần màu thì gửi file thế nào?
Gửi một PDF đủ 50 tờ theo đúng thứ tự, kèm danh sách số trang in màu. Không cần tách hai file. Tờ màu và tờ trắng đen được báo giá riêng theo chế độ và ghép lại đúng vị trí khi đóng bộ.
Bản phối hợp điện nước in trắng đen cần gì để không nhầm hệ?
Mỗi hệ cần ba dấu hiệu cùng lúc: kiểu đường riêng (liền, đứt, chấm gạch), độ dày khác ít nhất một cấp và mã chữ đặt dọc tuyến mỗi 50–80 mm. Thiếu một trong ba, hai tuyến song song dễ bị đọc nhầm, nhất là trên bản photo.
In bản vẽ màu trên giấy Fort có ổn không?
Ổn cho bản kỹ thuật có nét màu và chú giải màu, vì cần phân biệt màu chứ không cần màu đẹp. Không hợp cho phối cảnh và ảnh: Fort hút mực, màu xỉn và tối. Những tờ đó nên in Couche hoặc giấy ảnh.
Ảnh nền vệ tinh in trắng đen bị tối, che mất nét thì sửa thế nào?
Giảm độ đậm lớp ảnh xuống khoảng 30–50% hoặc làm sáng ảnh trước khi chèn, để nét bản vẽ nổi lên trên. Kiểm lại trên một tờ mẫu đúng khổ, vì ảnh trên màn hình luôn sáng hơn bản in.

