名片选纸:Couche 铜版纸还是艺术纸更合适?

Chọn Couche khi danh thiếp có ảnh, mảng màu, logo nhiều màu hoặc chữ nhỏ cần sắc nét; chọn giấy mỹ thuật khi thiết kế ít chữ và muốn cảm giác vân, màu nền hay ánh kim khi cầm. Couche 300–350 gsm cán màng là cấu hình phổ thông, in xong khoảng 2 giờ sau khi chốt file. Giấy mỹ thuật chọn theo mẫu giấy thật, màu in thay đổi theo màu nền và vân, và lịch nhận báo theo đơn. Cả hai dùng chung khổ chuẩn 88 × 53 mm tại Nhà in Phát.
Đặt danh thiếp phổ thông tại trang in cardvisit. Khổ và lề cắt có trong hướng dẫn kích thước danh thiếp. Danh thiếp nền tối in mực trắng là cấu hình riêng, xem danh thiếp giấy đen mực trắng.
Couche và giấy mỹ thuật khác nhau ở bề mặt
Couche là giấy có lớp tráng phủ. Mực nằm trên lớp phủ nên màu tươi, điểm ảnh gọn, chữ 6 pt và QR vẫn rõ. Mặt Couche trơn, nên thường được cán màng mờ hoặc bóng để chống trầy và chống nứt mực ở mép.
Giấy mỹ thuật là tên chung cho giấy có vân (sần, kẻ, vải), có màu nền (ngà, kem, xám, đen) hoặc có ánh kim, ánh trai. Phần lớn không có lớp tráng phủ như Couche, nên mực thấm vào sợi giấy, màu in trầm và mềm hơn, nét mảnh có thể đứt ở chỗ vân sâu. Đổi lại, thẻ có cảm giác chạm riêng mà Couche cán màng không tạo được.
Ở giữa hai nhóm là Bristol (230–350 gsm, có tráng phủ, mặt mịn, cứng tay) và Ivory (tráng phủ một mặt, mặt kia nhám). Hai loại này hợp danh thiếp trang nhã cần đứng dáng hoặc cần một mặt viết tay được.
Định lượng, độ dày và cảm giác cầm
Gsm là khối lượng giấy trên một mét vuông, không phải độ dày. Cùng 300 gsm, Couche dày khoảng 0,28–0,30 mm, còn giấy mỹ thuật không tráng phủ thường dày khoảng 0,35–0,40 mm (thường gặp, theo mã giấy). Vì vậy thẻ mỹ thuật 300 gsm cầm “dày” hơn Couche 300 gsm. Cán màng thêm khoảng 0,02–0,03 mm mỗi mặt và làm thẻ cứng hơn.
Độ dày tính theo hộp: 100 tấm Couche 300 gsm cán hai mặt dày khoảng 3,2–3,6 cm; cùng số tấm giấy mỹ thuật 350 gsm có thể dày 4–4,5 cm. Nếu đã có hộp đựng, ví hoặc khay quầy lễ tân, đo lòng chứa trước khi chọn giấy dày.
Màu thương hiệu và chi tiết nhỏ trên hai nhóm giấy
Trên Couche, màu CMYK lên gần bản duyệt nhất. Trên giấy mỹ thuật, phần không in hiện màu của giấy, không phải trắng: nền ngà làm xanh dương ngả lục nhẹ, đỏ ngả cam; nền xám làm màu tối đi. Vùng trắng trên giấy màu cần mực trắng hoặc ép nhũ trắng, không có “màu trắng” trong CMYK. Giấy kraft nâu không có nền trắng nên màu sáng gần như mất, chỉ hợp chữ đen hoặc màu đậm.
Chi tiết nhỏ cần mốc riêng. Trên giấy có vân, chữ thông tin nên từ khoảng 7 pt, tránh font nét mảnh và viền khung dưới khoảng 0,25 pt. QR nên có cạnh từ khoảng 15 mm, nền sáng, mã tối; trên giấy vân sâu nên tăng lên 18–20 mm và quét thử trên bản in thật. Giấy ánh kim phản sáng theo góc: logo lớn đẹp, nhưng email cỡ 6–7 pt có thể khó đọc dưới đèn trần.
Gia công hợp với từng nhóm giấy
- Cán màng mờ hoặc bóng: hợp Couche, giảm trầy và bám bẩn. Không cán giấy mỹ thuật vì sẽ mất cảm giác vân. Cán màng không làm thẻ chống nước hoàn toàn, vì mép giấy vẫn hút ẩm.
- Ép kim (ép nhũ): lá nhũ vàng, bạc ép nhiệt bằng khuôn, hợp cả hai nhóm; trên giấy vân sâu, nhũ có thể không phủ kín đáy vân ở nét mảnh.
- Bo góc: Nhà in Phát bo một cỡ R10 (bán kính 10 mm), giảm quăn góc khi để trong ví; chữ và khung gần góc phải lùi vào.
File cho cả hai nhóm dựng theo khổ 88 × 53 mm cộng tràn lề 2 mm mỗi cạnh, tức 92 × 57 mm; tên, số điện thoại, email, QR nằm cách mép thành phẩm ít nhất 3 mm. Ép kim vẽ vector một màu đặc 100% ở layer riêng.
Viết tay, trao thẻ và lưu trong hộp
Danh thiếp dùng để ghi lịch hẹn hoặc số phòng cần một mặt không cán. Couche cán màng gần như không ăn bút bi; Bristol không cán và giấy mỹ thuật không tráng viết tốt. Thử bút thật sẽ dùng (bút bi, bút gel) trên mẫu, để khô 1 phút rồi miết ngón tay xem có lem.
Thẻ trao tay hằng ngày ở quầy bán hàng cọ xát nhiều: Couche cán mờ giữ mặt in sạch lâu hơn. Thẻ trao trong buổi gặp đối tác, số lượng ít, cần ấn tượng chạm: giấy mỹ thuật hợp hơn. Thẻ ghim vào hồ sơ sẽ bị lỗ ghim và cọ mép, nên tránh nền đậm chạy sát mép.
Bảng quyết định nhanh
| Thiết kế hoặc nhu cầu | 建议选择 | 理由 |
|---|---|---|
| Có ảnh sản phẩm, ảnh công trình, gradient | Couche 300–350 gsm cán mờ | Lớp tráng phủ giữ chi tiết ảnh và chuyển màu mượt |
| Logo nhiều màu, màu thương hiệu phải đúng | Couche hoặc Bristol | Nền trắng, màu CMYK gần bản duyệt |
| Ít chữ, logo lớn, phong cách tối giản | Giấy mỹ thuật có vân hoặc màu nền | Cảm giác chạm và màu nền là một phần thiết kế |
| Cần viết tay lên thẻ | Bristol không cán, giấy mỹ thuật không tráng | Bề mặt nhận mực bút bi |
| Thẻ phát số lượng lớn, dùng hằng ngày | Couche cán màng | Chống trầy, đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file |
| Nền đen hoặc giấy màu tối, chữ trắng | Giấy tối màu in mực trắng hoặc ép nhũ | CMYK không in được màu trắng |
| Phong cách thủ công, mộc | 牛皮纸 | Chữ đen, màu đậm; màu sáng gần như mất trên nền nâu |
Chi phí, tiến độ và cách chốt mẫu
Giá không suy được từ tên “Couche” hay “mỹ thuật”. Báo giá phụ thuộc mã giấy, số mặt in, số tấm mỗi tên, số tên trong đơn và gia công. Khi so hai báo giá, giữ nguyên các dữ kiện này: Couche có cán so với giấy mỹ thuật không cán là hai cấu hình khác nhau, chênh lệch không chỉ do giấy.
Danh thiếp Couche cấu hình thường in xong khoảng 2 giờ sau khi chốt file và quy cách. Giấy mỹ thuật, ép kim hoặc mực trắng có lịch hẹn riêng theo mã giấy và gia công. Lô giấy mới cùng mã có thể lệch tông nhẹ so với lô cũ; khi tái bản, mang thẻ cũ làm mẫu đối chiếu và ghi mã giấy, gsm, lớp cán, gia công trên phiếu đặt.
Gửi yêu cầu kèm file PDF, khổ, số tấm mỗi tên và giấy dự kiến tại trang in cardvisit, hoặc trang sản phẩm Name Card Giấy Mỹ Thuật nếu đã chọn giấy vân. Các phương án khác có trong bộ chọn Danh Thiếp. Danh thiếp nền đen dùng mực trắng xem thêm cách kiểm namecard giấy đen mực trắng. Nhà in Phát kiểm file miễn phí; thiết kế card visit có tính phí, báo phương án và chi phí trước khi làm.
分场景解答
FAQ chọn giấy Couche hay giấy mỹ thuật cho danh thiếp
Độ dày, màu, chữ nhỏ và gia công trên từng nhóm giấy.
Danh thiếp Couche nên cán mờ hay cán bóng?
Cán mờ khi thẻ nhiều chữ, cần đọc rõ dưới đèn và ít lộ vân tay; cán bóng khi thẻ có ảnh sản phẩm cần màu đậm, bóng. Mỗi mặt cán thêm khoảng 0,02–0,03 mm và mặt đã cán không viết bút bi được.
Danh thiếp có ảnh sản phẩm nên in giấy mỹ thuật được không?
In được nhưng ảnh sẽ trầm và mất chi tiết ở vùng tối vì mực thấm vào giấy không tráng, vân giấy còn làm nhiễu mảng màu. Ảnh nhiều chi tiết nên in Couche 300–350 gsm cán mờ.
Viền khung mảnh quanh danh thiếp giấy vân có in rõ không?
Nét dưới khoảng 0,25 pt dễ đứt ở đáy vân giấy. Nếu cần viền, dùng nét từ khoảng 0,5 pt và đặt cách mép thành phẩm ít nhất 3–5 mm; viền sát mép không nên dùng vì sai lệch nhỏ khi xén làm hai bên viền trông không đều.
Logo xanh dương in trên giấy ngà có giữ đúng màu không?
Không hoàn toàn. Nền ngà cộng vào màu in, xanh dương ngả lục nhẹ và vùng trắng của logo thành màu ngà. Màu thương hiệu bắt buộc chính xác nên dùng Couche hoặc Bristol nền trắng, hoặc duyệt bản in thật trên đúng mã giấy.
Danh thiếp giấy mỹ thuật có cần cán màng không?
Thường không. Cán màng phủ mất vân và cảm giác chạm, vốn là lý do chọn giấy mỹ thuật. Nếu lo trầy, chọn giấy có màu nền trung tính và tránh mảng màu đậm lớn.
Mặt sau danh thiếp cần ghi lịch hẹn bằng bút bi thì chọn giấy nào?
Bristol không cán mặt sau hoặc giấy mỹ thuật không tráng. Couche cán màng gần như không ăn bút bi. Có thể cán mặt trước, để trơn mặt sau nếu thiết kế cho phép.
100 tấm danh thiếp giấy mỹ thuật 350 gsm có vừa hộp đựng thông dụng không?
Xếp 100 tấm dày khoảng 4–4,5 cm, dày hơn Couche 300 gsm cán màng (khoảng 3,2–3,6 cm). Đo lòng hộp hoặc ví trước; nếu hộp chỉ sâu 3,5 cm thì chia làm hai xấp hoặc chọn giấy mỏng hơn.
Danh thiếp hai mặt in giấy mỹ thuật có bị lộ chữ mặt sau không?
Ở 250–350 gsm, giấy dày khoảng 0,3–0,4 mm nên gần như không lộ. Trường hợp cần để ý là giấy màu nhạt, mỏng, có mảng đen lớn ở một mặt và chữ nhỏ ở mặt kia: soi bản in thật dưới đèn trước khi in cả lô.

