2시간 빠른 인쇄
Bao lì xì mặt trước và mặt sau cùng dụng cụ thẳng minh họa cách đo mẫu thành phẩm
작성자:
05.10.2026

세뱃돈 봉투 크기와 도무송 칼틀: 디자인 배치 전 정확한 측정

Kích thước bao lì xì ghi theo thân bao sau khi gấp dán; khuôn trải là hình phẳng lớn hơn nhiều vì có thêm nắp, tai dán và phần gập đáy. Bao lì xì in tại Nhà in Phát dùng khuôn 8 × 16 cm (80 × 160 mm) có nắp cài, giấy Couche 150 gsm cán mờ, dán máy. Thân 80 × 160 mm đựng thẳng mọi tờ tiền polymer, kể cả tờ 500.000 đồng dài 152 mm. Thiết kế phải dàn trên bản khuôn trải nhà in gửi, tràn lề 2 mm ngoài đường bế, chữ cách đường bế và đường cấn ít nhất 3 mm.

Vì sao cùng một tên kích thước vẫn có thể khác cấu tạo?

“Bao 8 × 16” chỉ nói chiều ngang và chiều cao thân. Hai bao cùng 8 × 16 cm vẫn có thể khác nhau ở nắp (cài lưỡi, nắp thẳng, nắp tròn), ở vị trí đường dán (dán dọc lưng hay dán hai cạnh bên) và ở phần gập đáy. Mỗi kiểu là một khuôn bế khác, nên file dàn cho khuôn này không dùng được cho khuôn kia.

Khi ai đó nói bao “dài 16 cm”, hãy hỏi lại: 16 cm là thân bao, là bao khi đóng nắp, hay là cả bản trải? Ghi đủ ba con số thân, nắp và khuôn trải ngay từ đầu sẽ tránh được lỗi dàn hình lệch nắp.

Bao 8 × 16 cm có vừa tiền polymer không?

Vừa, và không cần gấp tiền. Bảng dưới là kích thước các tờ tiền polymer đang lưu hành theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, so với thân bao 80 × 160 mm:

Mệnh giáKích thước tờ tiềnDư chiều ngangDư chiều cao
10.000 đồng132 × 60 mm20 mm28 mm
20.000 đồng136 × 65 mm15 mm24 mm
50.000 đồng140 × 65 mm15 mm20 mm
100.000 đồng144 × 65 mm15 mm16 mm
200.000 đồng148 × 65 mm15 mm12 mm
500.000 đồng152 × 65 mm15 mm8 mm

Số dư trong bảng tính theo thân ngoài. Lòng bao thực tế hẹp hơn vài milimet do nếp gấp và mép dán, nên tờ 500.000 đồng vào vừa khít theo chiều cao. Muốn bỏ thêm thiệp, thẻ hay voucher, vật đó nên nhỏ hơn khoảng 70 × 145 mm và mỏng, rồi thử trên bao mẫu.

Kích thước bao lì xì: hai trạng thái đóng và mở nắp minh họa cấu tạo sau gấp
Bao lì xì ở hai trạng thái đóng và mở nắp, thể hiện cấu tạo sau khi gấp.

Bốn loại kích thước phải phân biệt

  • Kích thước thân: ngang × cao của bao đã gấp dán, chưa tính nắp. Với khuôn chuẩn là 80 × 160 mm. Đây là con số ghi trên báo giá.
  • Lòng chứa: khoảng trống bên trong để bỏ tiền hoặc thiệp. Nhỏ hơn thân vài milimet mỗi chiều.
  • Nắp: chiều cao phần nắp tính từ nếp gấp đến mép nắp, cộng lưỡi cài nếu có. Nắp che một phần mặt trước hoặc mặt sau khi đóng.
  • Khuôn trải: toàn bộ hình phẳng trước khi gấp, gồm mặt trước, mặt sau, nắp, tai dán, phần gập đáy, đường bế và đường cấn. File thiết kế dàn trên kích thước này.

Kích thước ngoài và khoảng chứa không đồng nhất

Giấy có độ dày, nên mỗi nếp gấp “ăn” vào lòng bao một chút. Couche 150 gsm dày khoảng 0,12–0,14 mm; gsm là khối lượng giấy trên một mét vuông, không phải độ dày. Ở mép dán có hai lớp giấy chồng lên nhau cộng lớp keo. Vì vậy một vật cứng rộng đúng 80 mm sẽ không vào được bao 80 mm. Thiệp cứng nên nhỏ hơn thân ít nhất 8–10 mm chiều ngang.

Đo mẫu bao lì xì theo một trình tự thống nhất

Khi có bao mẫu muốn làm lại, đo theo thứ tự sau, ghi bằng milimet:

  1. Đặt bao nằm phẳng, mặt trước hướng lên, nắp đóng.
  2. Đo chiều ngang thân ở giữa bao, từ mép trái đến mép phải.
  3. Đo chiều cao thân từ đáy đến nếp gấp nắp, không tính nắp.
  4. Mở nắp, đo chiều cao nắp từ nếp gấp đến điểm xa nhất, ghi riêng phần lưỡi cài.
  5. Ghi vị trí đường dán: giữa lưng hay hai bên.
  6. Đo 2–3 bao cùng lô. Nếu chênh nhau quá 1 mm, bao mẫu có thể đã cong vênh hoặc bóc dán.

Dùng thước thép hoặc thước kẹp, không đo trên ảnh chụp. Chụp thêm bao ở trạng thái mở nắp và trạng thái tháo dán (nếu có bao hỏng) gửi kèm số đo.

Đọc đường bế, đường cấn và vùng dán trên khuôn

Bản khuôn trải có ba loại đường, mỗi loại một việc:

  • Đường bế: đường dao cắt, quyết định hình bao sau khi tách khỏi tờ in.
  • Đường cấn: nếp gấp, dao không cắt đứt mà ép lõm để gấp gọn.
  • Vùng dán: tai dán và chỗ bôi keo, bị che khi bao hoàn thiện.

Ba lớp này nằm trên layer riêng, vẽ bằng vector nét đơn 0,5–1 pt, tô màu pha đặt tên riêng (ví dụ “Be”, “Can”, “Dan”) và để in chồng. Chúng chỉ dùng cho dao bế, không được in ra. Đừng xóa hay di chuyển layer khuôn trong file làm việc; ẩn đi khi cần nhìn bố cục.

Nền và họa tiết chạy ra mép bao kéo thêm 2 mm ngoài đường bế. Logo, lời chúc, số điện thoại lùi vào ít nhất 3 mm so với cả đường bế lẫn đường cấn. Không đặt chữ trên tai dán và trên phần nắp bị che khi cài.

Bản trải phẳng và các mặt sau gấp

Để hình dung, xét một khuôn kiểu dán dọc lưng. Chiều ngang bản trải xấp xỉ 2 × 80 mm cộng tai dán 10–15 mm, tức khoảng 170–175 mm. Chiều cao xấp xỉ 160 mm thân cộng nắp 30–40 mm và phần gập đáy 15–20 mm, tức khoảng 205–220 mm. Đây là ví dụ để hiểu vì sao bản trải lớn gấp đôi thân bao; số đo thật lấy theo khuôn nhà in gửi.

Với bản trải cỡ khoảng 175 × 220 mm, một tờ in kỹ thuật số khoảng 32,5 × 48 cm thường đặt được 2 bao. Đơn 100 bao cần khoảng 50 tờ in trước khi bế và dán. Khi số lượng lớn, in offset cho giá mỗi bao thấp hơn vì chi phí chế bản chia đều; ngưỡng chuyển phụ thuộc số mẫu thiết kế và gia công, nên hỏi khi báo giá.

Nắp gập qua đỉnh bao nên hình trên nắp thường phải xoay 180° trên bản trải so với mặt liền kề. Mặt sau dán dọc lưng bị đường dán chia đôi, nên tránh đặt logo hay chữ ngay giữa mặt sau.

Kiểm một hình chạy nối qua nếp gấp

Họa tiết chạy từ mặt trước qua nắp hoặc từ mặt trước vòng ra sau đẹp trên màn hình nhưng dễ lệch khi gấp, vì nếp gấp có sai số khoảng 1 mm. Chọn họa tiết nền liên tục (hoa văn lặp, màu trơn) cho vùng nối, tránh đường viền mảnh hay chữ chạy ngang qua nếp. Cách kiểm nhanh: in bản trải ra giấy thường đúng tỷ lệ 100%, cắt theo đường bế, gấp theo đường cấn và xem hình ở cả hai trạng thái đóng và mở nắp.

Ba tình huống chọn kích thước bao lì xì

Chỉ đựng tiền, in logo và lời chúc. Dùng khuôn chuẩn 8 × 16 cm. Không cần đo lại, chỉ dàn thiết kế trên bản khuôn trải nhận từ nhà in. Có thể chọn hướng từ bộ mẫu bao lì xì rồi gửi logo và lời chúc.

Đựng kèm thiệp hoặc voucher. Đo vật cần bỏ vào. Nếu vật nhỏ hơn khoảng 70 × 145 mm và mỏng, khuôn chuẩn dùng được. Nếu lớn hơn, cần khuôn khác; việc đổi khuôn nằm ngoài cấu hình chuẩn và được báo khả năng, chi phí, lịch trước.

Doanh nghiệp in nhiều mẫu cho nhiều phòng ban. Giữ chung một khuôn cho mọi mẫu để chỉ cần một dao bế và một lần duyệt cấu tạo. Mỗi mẫu là một phiên bản thiết kế; ghi số bao từng mẫu khi hỏi giá. Cách đọc các khoản trong báo giá có trong hướng dẫn đối chiếu báo giá.

Khi nào cần xác nhận lại khuôn?

Bản khuôn đã dùng cho đơn trước vẫn dùng lại được khi giữ nguyên khổ, giấy và kiểu nắp. Cần xác nhận lại khi có một trong các thay đổi sau:

  • Đổi khổ thân, dù chỉ 5 mm.
  • Đổi sang giấy dày hơn Couche 150 gsm: nếp gấp cần chỗ hơn, lòng bao hẹp đi.
  • Đổi kiểu nắp, bo góc nắp hay thêm lưỡi cài.
  • Muốn thêm gia công ngoài in và cán mờ, ví dụ ép kim: hỏi khả năng nhận trước khi dàn file. Nếu nhận, vùng ép là vector một màu đặc 100%, layer riêng, cách đường cấn để lá kim không nứt khi gấp.
  • Khoét cửa sổ hoặc bế hình trang trí trên thân.

Gia công thêm, đổi giấy và đổi khuôn nằm ngoài cấu hình chuẩn; khả năng, chi phí và lịch được báo theo từng đơn. Bao lì xì có bế và dán nên được hẹn lịch khi chốt file, không theo mốc 2 giờ của đơn in cắt thường.

Phiếu yêu cầu về kích thước và cấu tạo

Gửi các mục dưới đây khi đặt dịch vụ in bao lì xì của Nhà in Phát. Mỗi dòng tương ứng một quyết định cần chốt trước khi dàn file.

MụcGhi gì예시Ảnh hưởng đến
칼틀Khuôn chuẩn hay khuôn khácKhuôn chuẩn 80 × 160 mm, nắp càiBản khuôn trải nhận về
Vật bỏ vàoKích thước và độ dàyThiệp 65 × 140 mm, 300 gsmCó dùng được khuôn chuẩn không
Số mẫuSố phiên bản thiết kế3 mẫu theo 3 phòng banSố file duyệt, cách đóng gói
수량Số bao mỗi mẫu200 + 200 + 100 bao디지털 인쇄와 오프셋 인쇄
Giấy, bề mặtGiữ chuẩn hay đổiCouche 150 gsm cán mờĐộ đứng bao, lòng chứa
추가 후가공Có hay không, vị trí trên baoChỉ in và cán mờ theo chuẩnKhả năng nhận, lịch và chi phí riêng
수령 희망일Ngày phát bao và nơi nhậnNgày phát cho nhân viên, nhận tại cơ sởLịch sản xuất

Kiểm file và tư vấn miễn phí. Thiết kế mẫu mới hoặc chỉnh file có tính phí, được báo phương án và chi phí trước khi làm. Đặt cọc 70% khi chốt đơn. Nhận bao tại 441/31 Điện Biên Phủ, Phường Thạnh Mỹ Tây hoặc 37A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Sài Gòn, TP.HCM; hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.

Giải đáp trước khi đặt

Giải đáp về đo mẫu và đọc cấu tạo bao lì xì

Số đo, khuôn trải và vật đựng bên trong bao.

Bao 8 × 16 cm có đựng được tờ 500.000 đồng mà không gấp không?

Được. Tờ 500.000 đồng dài 152 mm, rộng 65 mm; thân bao 80 × 160 mm nên dư khoảng 15 mm chiều ngang và 8 mm chiều cao. Lòng bao hẹp hơn thân vài milimet nên tờ tiền vào vừa khít theo chiều cao.

Bao lì xì kiểu dài 9 × 17 cm có đặt được không?

Khuôn chuẩn là 8 × 16 cm. Khổ khác như 9 × 17 cm cần khuôn riêng, nằm ngoài cấu hình chuẩn; khả năng, chi phí và lịch được báo theo đơn. Nếu chỉ cần đựng tiền, khuôn 8 × 16 cm đã đủ cho mọi tờ polymer.

Giấy Couche 150 gsm của bao lì xì dày bao nhiêu?

Khoảng 0,12–0,14 mm. Mức 150 gsm là khối lượng giấy trên một mét vuông, không phải độ dày. Mỗi nếp gấp và mép dán chiếm thêm chỗ, nên lòng bao hẹp hơn thân vài milimet.

Vì sao chữ trên nắp bị ngược khi gấp bao?

Nắp gập qua đỉnh bao nên hình trên nắp phải xoay 180° trên bản trải so với mặt liền kề. Nếu dàn nắp cùng chiều với mặt trước, chữ sẽ lộn ngược khi đóng. In bản trải ra giấy thường, gấp thử để kiểm.

Có thể bỏ thẻ quà tặng cứng vào bao 8 × 16 cm không?

Được nếu thẻ nhỏ hơn khoảng 70 × 145 mm. Thẻ cỡ thẻ ngân hàng 85,6 × 54 mm phải đặt dọc, cạnh 54 mm theo chiều ngang bao. Gửi kích thước và độ dày thẻ để thử trên bao mẫu trước khi in số lượng.

Bao mẫu cũ đo được 79 × 161 mm, có phải khuôn khác không?

Thường không. Bao đã dùng, ép trong túi hoặc cong vênh hay lệch 1 mm. Đo thêm 2–3 bao cùng lô; nếu đều lệch dưới 1 mm, đó vẫn là khổ 80 × 160 mm. Nếu lệch từ 3 mm trở lên hoặc nắp khác hình, gửi ảnh bao mở nắp để đối chiếu khuôn.

Dùng khuôn chuẩn của nhà in thì có phải tự vẽ đường bế không?

Không phải vẽ. Dàn thiết kế trên bản khuôn trải nhà in gửi, giữ nguyên layer đường bế, đường cấn và chỉ ẩn khi cần xem bố cục. Chỉ khi làm khuôn khác mới cần vẽ đường bế vector nét đơn 0,5–1 pt bằng màu pha đặt tên riêng.

Bạn đang xem: Kích thước bao lì xì và khuôn bế: đo đúng trước khi dàn thiết kế