In Catalogue đóng kim giữa – đóng gáy keo – đóng lò xo?

Trả lời ngắn: Dưới khoảng 40 trang chọn kim giữa: rẻ, nhanh, mở gần phẳng ở trang giữa. Từ khoảng 40 trang trở lên và cần sống gáy in tên, chọn gáy keo, chừa lề trong 10–15 mm. Cần đặt mở phẳng trên bàn, lật 360° hoặc ghi chú, chọn lò xo, chừa dải đục lỗ khoảng 10–12 mm ở mép gáy. Kim giữa bắt buộc tổng số trang (cả bìa) chia hết cho 4.
Quy cách khác: In Catalogue gáy keo · In Catalogue Gáy lò xo.
Ma trận chọn kiểu đóng theo số trang và cách dùng
| 기준 | 중철 제본 | 무선 제본 | 스프링 제본 |
|---|---|---|---|
| Số trang hợp lý (Couche 120–150 gsm) | 8–48 trang, bội số của 4 | Từ khoảng 40 trang | 8 trang đến vài trăm trang |
| Hình thức gáy | Nếp gấp, lộ 2 ghim | Gáy vuông, in được tên khi gáy từ khoảng 4 mm | Vòng lò xo lộ ngoài, không in tên |
| Độ mở khi đặt trên bàn | Gần phẳng ở tay giữa, hẹp dần về trang đầu, cuối | Không phẳng, khuất 3–6 mm sát gáy | 평평하게 펼쳐짐, 360° 넘김 |
| Lề cần chừa phía gáy | Khoảng 8–10 mm; lề ngoài tính thêm độ đẩy trang | 10–15 mm theo độ dày cuốn | 10–12 mm cho dải lỗ |
| Thay trang | Không | Không | Khó với lò xo kẽm vòng đôi; gáy nhựa lược tháo được |
| 적합한 용도 | Catalogue sự kiện, bảng giá phát số lượng | Catalogue tổng hợp, hồ sơ năng lực đứng trên kệ | Catalogue kỹ thuật, bảng mẫu vật liệu, tài liệu tra cứu |
Số trang trong bảng là mức thường gặp với Couche 120–150 gsm. Giấy càng dày, kim giữa càng ít trang được và gáy keo càng sớm đủ dày. Kiểu đóng khả thi được chốt khi kiểm file theo giấy thật.
Cấu tạo, thông số và giới hạn của từng kiểu đóng
Ba kiểu đóng khác nhau từ cách gom trang. Hiểu cấu tạo giúp biết vì sao kim giữa phải có số trang chia hết cho 4, vì sao gáy keo cần lề trong rộng và vì sao lò xo chiếm một dải lỗ ở mép gáy.
Kim giữa (đóng kim giữa)
- Cấu tạo: mỗi tờ in hai mặt được gấp đôi thành 4 trang; các tờ lồng vào nhau cùng tờ bìa đã cấn nếp, rồi bấm 2 ghim kim loại xuyên qua nếp giữa (cuốn cao trên khoảng 300 mm có thể bấm 3 ghim). Kim giữa là ghim bấm, không phải đường may.
- Số trang: tổng số trang chia hết cho 4, tính cả bìa. Ví dụ 28 trang ruột + 4 trang bìa = 32 trang = 8 tờ gấp. File 30 trang phải thêm 2 trang (trang trắng hoặc nội dung) hoặc bớt 2 trang.
- Độ mở: cuốn mỏng mở gần phẳng ở trang giữa; cuốn nhiều tờ phồng ở gáy, trang đầu và cuối mở hẹp hơn.
- Độ đẩy trang: khi lồng nhiều tờ, các trang ở giữa bị đẩy nhô ra ở mép ngoài; sau khi xén, lề ngoài các trang này hẹp lại. Cuốn 48 trang (12 tờ) Couche 150 gsm dày khoảng 0,13 mm/tờ có thể chênh khoảng 1–1,5 mm giữa trang ngoài và trang giữa. Khi bình trang cần bù độ đẩy trang, hoặc chừa lề ngoài từ 8 mm để số trang, chữ không bị xén sát.
Gáy keo (đóng keo gáy)
- Cấu tạo: các tờ ruột xếp chồng đúng thứ tự thành khối, mép gáy được phay đi khoảng 1,5–3 mm và tạo nhám để keo bám, phủ keo, gắn bìa liền có sống gáy, sau đó xén ba cạnh.
- Bề rộng gáy: ≈ số tờ ruột × độ dày tờ + 2 × độ dày bìa. 80 trang Couche 150 gsm, bìa 300 gsm: khoảng 40 × 0,13 + 0,6 ≈ 5,8 mm.
- Loại keo: keo nhiệt; gáy bền nhờ mép gáy phay đủ nhám, thớ giấy song song gáy và vùng keo trên bìa để trơn. Chi tiết trong bài catalogue gáy keo: chọn keo và kiểm độ bền gáy.
- Độ mở: không mở phẳng; mỗi trang khuất khoảng 3–6 mm sát gáy ở góc đọc tự nhiên.
스프링 제본
- Cấu tạo: bìa và ruột được xén rời từng tờ, đục một dải lỗ dọc mép gáy rồi luồn vòng. Ba loại thường gặp: lò xo kép kim loại (lò xo kẽm vòng đôi), lò xo xoắn (coil, nhựa hoặc kim loại) và gáy nhựa lược.
- Thông số lò xo kẽm vòng đôi thường gặp: bước lỗ 3:1 (3 lỗ mỗi inch, cách nhau khoảng 8,5 mm) cho vòng đến khoảng 14 mm; bước 2:1 (khoảng 12,7 mm) cho cuốn dày hơn. Lỗ cách mép giấy khoảng 3–5 mm. Đường kính vòng lớn hơn độ dày ruột khoảng 2–3 mm để lật trơn.
- Độ mở: mở phẳng và lật 360°, thuận cho tài liệu tra cứu, ghi chép, catalogue kỹ thuật đặt trên bàn.
- Giới hạn: dải lỗ chiếm lề gáy; ảnh trải hai trang bị vòng lò xo chia đôi, giữa hai trang có khe hở khoảng bằng đường kính vòng. Chỉ gáy nhựa lược tháo ra thay trang dễ; lò xo kẽm vòng đôi phải mở vòng bằng kìm. Xem thêm catalogue lò xo: mở phẳng và thay trang.
Lề an toàn của từng kiểu đóng
Cùng một file, ba kiểu đóng che mất ba vùng khác nhau. Bảng dưới là mốc để dàn trang; nền màu và ảnh vẫn chạy tới mép, tràn lề 2 mm mỗi cạnh ngoài.
| 제본 방식 | Vùng bị che hoặc mất | Chữ, mã, số trang nên cách | Ảnh trải hai trang |
|---|---|---|---|
| 중철 제본 | Nếp gấp giữa; mép ngoài trang giữa cuốn bị xén lẹm do độ đẩy trang | 8–10 mm từ nếp; lề ngoài từ 8 mm | Đặt ở tay giữa thì liền nhất |
| 무선 제본 | 1,5–3 mm bị phay; 3–6 mm khuất khi mở | 10 mm (cuốn mỏng, vừa) đến 15 mm (cuốn dày) | Đẩy chủ thể ra khỏi vùng 10 mm hai bên gáy |
| 스프링 제본 | Dải lỗ và vòng khoảng 10–12 mm | 12 mm từ mép gáy | Bị vòng chia đôi; nên dàn thành hai trang đơn |
Mã QR không đặt sát gáy ở bất kỳ kiểu nào. Mã nên rộng từ 15–20 mm và cách vùng gáy theo mốc trên, quét thử trên bản in thử.
Chọn kiểu đóng theo mục đích
| 상황 | 적합한 제본 방식 | Cần chú ý |
|---|---|---|
| Catalogue sự kiện 16–32 trang, phát vài trăm cuốn | 중철 제본 | Số trang chia hết cho 4; ghim lộ ở gáy |
| Catalogue tổng hợp 60–120 trang, trưng trên kệ | 무선 제본 | Lề trong 12–15 mm; không thay trang |
| Catalogue kỹ thuật, bảng mẫu vật liệu đặt trên bàn | 스프링 제본 | Dải lỗ 10–12 mm; ảnh trải bị vòng chia đôi |
| Bảng giá đổi theo quý | Kim giữa hoặc gáy keo kèm tờ giá rời; hoặc lò xo | So chi phí in lại cả cuốn với in tờ rời |
| Tài liệu cầm đi gặp khách cả ngày | Kim giữa nếu mỏng; lò xo nếu cần mở trên bàn | Thử cầm một tay và cho vào túi |
Cách tính số trang và chia trang cho từng kiểu đóng có trong bài tính số trang catalogue.
Thử ba điểm trên cuốn mẫu
So kiểu đóng chỉ có nghĩa khi ba mẫu cùng khổ, cùng giấy và cùng số trang. Thử ba điểm sau:
- Đọc mã sản phẩm gần gáy nhất: mở cuốn theo cách người đọc dùng thật, không ép. Nếu phải mở bằng hai tay mới đọc đủ mã, dời mã ra phía ngoài hoặc tăng lề trong.
- Tìm hai mã ở hai nhóm khác nhau: nhờ một người chưa tham gia thiết kế làm. Quan sát họ có giữ được trang cần đối chiếu không, có phải giữ gáy liên tục không. Lò xo thường thắng ở bước này khi cuốn đặt trên bàn.
- Đưa cuốn vào chỗ dùng thật: túi tài liệu hội chợ, ngăn kệ, hộp trưng bày. Vòng lò xo làm cuốn dày thêm 5–10 mm so với gáy keo cùng số trang; cuốn kim giữa không có gáy để đọc tên trên kệ.
Ghi kết quả bằng vị trí và thao tác cụ thể (“mã ở góc trong trang 14 phải mở bằng hai tay”) thay vì “gáy chưa đẹp”. Nếu nhiều người duyệt, thống nhất một cấu hình cuối trước khi khóa file.
Thời gian, chi phí và cách đặt in
Kim giữa ít công đoạn nhất (gấp, lồng, bấm kim, xén) nên thường nhanh hơn và chi phí thấp hơn với cuốn mỏng. Gáy keo thêm xếp khối, phay gáy, vào keo và chờ keo ổn định. Lò xo thêm đục lỗ và luồn vòng. Đơn catalogue thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; đơn nhiều cuốn, nhiều trang hoặc có gia công bìa được hẹn lịch cụ thể. Giá theo số lượng và quy cách: số trang, giấy ruột, giấy bìa, cán màng, kiểu đóng và số cuốn.
Đổi kiểu đóng sau khi khóa file kéo theo việc chỉnh lề, chia lại trang đôi và làm lại file bìa (bìa gáy keo có gáy, bìa kim giữa và lò xo không có). Chốt kiểu đóng trước khi dàn các trang có bảng và ảnh trải.
Đặt in catalogue tại Nhà in Phát
Gửi PDF ruột theo đúng thứ tự trang, file bìa, khổ thành phẩm, số trang, giấy dự kiến, kiểu đóng mong muốn và số cuốn. Nhà in Phát kiểm file miễn phí, nêu kiểu đóng khả thi và lưu ý lề gáy trước khi nhận đơn; đơn được sản xuất sau khi duyệt bản in và đặt cọc 70%. Xem sản phẩm in catalogue đóng kim giữa, in catalogue đóng gáy keo và in catalogue đóng lò xo.
Mẫu catalogue đã in được giới thiệu thêm tại Nhà in Phát trên Thế Giới In Nhanh. Nhận tại 441/31 Điện Biên Phủ, Phường Thạnh Mỹ Tây hoặc 37A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Sài Gòn, TP.HCM; hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.
Xem toàn bộ lựa chọn in catalogue hoặc đi thẳng tới sản phẩm catalogue kim giữa, catalogue gáy keo và catalogue gáy lò xo. Cuốn lò xo dùng để viết ghi chú cần thêm giấy ruột không xuyên mực và lề đục lỗ rộng; trang in sổ tay lò xo theo yêu cầu trình bày các yếu tố này.
Câu hỏi thường gặp khi chọn kiểu đóng catalogue
Số trang, độ đẩy trang, bước lỗ lò xo và cách đổi kiểu đóng.
Vì sao chồng catalogue kim giữa bị nghiêng khi đóng thùng?
Phía gáy kim giữa dày hơn mép ngoài vì các tờ gấp đôi ôm nhau, nên chồng 20–30 cuốn 40 trang sẽ nghiêng rõ. Khi đóng thùng, xếp đảo chiều gáy sau mỗi 5–10 cuốn. Cuốn càng nhiều trang càng phồng gáy; trên khoảng 48 trang nên so với gáy keo.
Độ đẩy trang ở cuốn kim giữa 48 trang lệch bao nhiêu?
Với Couche 150 gsm dày khoảng 0,13 mm/tờ, trang giữa có thể nhô ra khoảng 1–1,5 mm so với trang ngoài trước khi xén. Chừa lề ngoài từ 8 mm hoặc để kỹ thuật bù độ đẩy trang khi bình trang.
Cuốn lò xo dày hơn cuốn gáy keo cùng số trang bao nhiêu?
Vòng lò xo lớn hơn độ dày ruột khoảng 2–3 mm, nên ruột 6 mm đóng vòng khoảng 9 mm sẽ dày khoảng 9–10 mm ở phía gáy, trong khi gáy keo chỉ khoảng 6–7 mm. Xếp chồng nhiều cuốn lò xo nên đảo chiều xen kẽ để chồng không nghiêng.
Catalogue in một mặt (mặt sau để trắng) nên đóng kiểu gì?
Lò xo hoặc gáy keo, đóng từ tờ rời in một mặt. Kim giữa gấp đôi tờ nên trang trắng sẽ xen kẽ giữa các trang nội dung. Lưu ý in một mặt làm số tờ gấp đôi so với in hai mặt cùng nội dung, nên gáy keo dày gấp đôi và lò xo cần vòng lớn hơn.
Một đơn có thể đóng hai kiểu khác nhau không?
Được, ví dụ 30 cuốn lò xo cho đội tư vấn và 300 cuốn kim giữa để phát. Mỗi kiểu là một cấu hình sản xuất, cần file bìa riêng, mã phiên bản riêng và được báo giá, hẹn lịch riêng.
Kiểu đóng nào thuận nhất để khách viết ghi chú lên catalogue?
Lò xo, vì trang nằm phẳng và lật ra sau được. Giấy ruột nên là Fort 100–120 gsm hoặc Couche mờ để bút bi không lem; Couche bóng khó viết.

