2시간 빠른 인쇄
Catalogue gáy keo bìa xanh vàng với khối trang đóng thẳng
작성자:
07.10.2026

Catalogue gáy keo: chọn keo và kiểm tra độ bền gáy

카탈로그 인쇄 – 무선 제본

Gáy keo bền hay không phụ thuộc bốn thứ: độ dày khối ruột, mép gáy được phay đủ nhám, vùng keo trên bìa không bị mực hoặc màng phủ che, và hướng thớ giấy chạy song song gáy. Ruột nên dày từ khoảng 3 mm trở lên (tương đương khoảng 40 trang Couche 150 gsm), chữ và mã sản phẩm cách đường gáy từ 10–15 mm, và cuốn mẫu phải kiểm ở đầu, giữa, cuối cuốn trước khi in số lượng.

Nếu còn đang chọn kiểu đóng, xem bảng so sánh kim giữa, gáy keo và lò xo; nếu đã có quy cách, đặt in tại sản phẩm in catalogue gáy keo.

CẤU TẠO CUỐN

Gáy keo được đóng qua những bước nào?

Các tờ ruột đã in được gấp thành tay sách hoặc xếp rời theo đúng thứ tự thành một khối. Máy phay cắt bỏ khoảng 1,5–3 mm ở mép gáy và tạo rãnh nhám để keo ăn sâu vào từng tờ. Keo được cán lên mép gáy và hai bên sát gáy, bìa liền ôm vào khối ruột, ép chặt, rồi cuốn được xén ba cạnh còn lại về khổ thành phẩm.

Hai liên kết cần phân biệt khi kiểm: từng tờ bám vào khối gáy và khối ruột bám vào bìa. Tờ lỏng ở giữa cuốn thường liên quan đến mép gáy và giấy; bìa tách khỏi khối ruột thường liên quan đến vùng keo trên bìa. Khi báo lỗi, ghi rõ hiện tượng nào để nhà in tìm đúng công đoạn.

Vì phay ăn mất 1,5–3 mm mép gáy và phần sát gáy khó mở, gáy keo cần lề trong rộng hơn lề ngoài. Đây là điểm khác lớn nhất so với kim giữa, nơi trang mở gần phẳng ở tay giữa.

Catalogue gáy keo mở ruột để kiểm tra vùng sát gáy và độ bám trang
Catalogue gáy keo mở ruột: vùng sát gáy khuất một phần khi mở ở góc đọc tự nhiên.
CHỌN KEO

Keo nhiệt: cuốn bền nhờ đâu

Gáy được đóng bằng keo nhiệt: keo nóng chảy cán lên mép gáy đã phay nhám, nguội là cứng lại, nên cuốn có thể xén và đóng gói ngay. Keo bám kém hơn trên giấy Couche tráng phủ dày, trên lớp mực đậm và màng cán; gáy cứng nên cuốn mở hẹp, và có thể mềm khi để trong xe nắng.

Vì vậy độ bền của cuốn nằm ở cách chuẩn bị: mép gáy phay đủ sâu, thớ giấy chạy song song gáy, vùng keo trên bìa để trắng và ruột đủ dày. Catalogue in Couche 150–200 gsm nhiều ảnh, dày trên 10 mm hoặc được lật hằng ngày tại quầy thì báo trước khi chốt để được tư vấn giấy và lề gáy.

THIẾT KẾ FILE

Tính bề rộng gáy từ số trang và giấy

Bề rộng gáy ≈ (số trang ruột ÷ 2) × độ dày một tờ + 2 × độ dày bìa. Độ dày tờ đo bằng micron, không suy từ định lượng: cùng 100 gsm, giấy Fort không tráng phủ dày tay hơn Couche. Số thường gặp (thay đổi theo hãng giấy):

  • Couche 120 gsm khoảng 0,10 mm/tờ; Couche 150 gsm khoảng 0,13 mm; Couche 200 gsm khoảng 0,18 mm.
  • Fort 100 gsm khoảng 0,11–0,12 mm/tờ.
  • Bìa Couche hoặc Ivory 250–300 gsm khoảng 0,25–0,35 mm.

Ví dụ: catalogue A4, 80 trang ruột Couche 150 gsm, bìa 300 gsm. Gáy ≈ 40 × 0,13 + 2 × 0,3 = 5,8 mm, làm tròn 6 mm. File bìa trải khi đó rộng 210 + 6 + 210 = 426 mm, cao 297 mm, cộng tràn lề 2 mm mỗi cạnh ngoài. Chữ trên gáy 6 mm nên cao tối đa khoảng 3–4 mm, cách hai đường gấp gáy ít nhất 1 mm. Gáy dưới khoảng 4 mm thì không nên đặt chữ.

Chỉ thiết kế bìa sau khi chốt số trang và giấy ruột. Thêm 16 trang Couche 150 gsm làm gáy rộng thêm khoảng 1 mm, đủ để chữ gáy lệch khỏi tâm. Khi đổi số trang, yêu cầu nhà in tính lại khuôn bìa. Cách xuất PDF ruột và bìa có trong bài chuẩn bị file PDF in catalogue.

BẢNG QUYẾT ĐỊNH

Bảng chọn: số trang, giấy, gáy và lề trong

Bảng tính sẵn cho catalogue A4 bìa 300 gsm; số gáy là ước tính để quyết định, kích thước cuối theo khuôn nhà in gửi khi kiểm file.

Ước tính gáy keo theo số trang ruột (bìa 300 gsm)
내지Gáy ước tínhChữ trên gáyLề trong nên chừaNhận xét
32 trang Couche 150 gsmkhoảng 2,7 mmKhông nên10 mmMỏng, keo bám kém; so với kim giữa
48 trang Couche 150 gsmkhoảng 3,7 mmChỉ ký hiệu ngắn10 mmNgưỡng dưới của gáy keo
80 trang Couche 150 gsmkhoảng 5,8 mmChữ cao 3–4 mm12 mmCấu hình catalogue phổ biến
120 trang Couche 120 gsmkhoảng 6,6 mmChữ cao 4 mm12–15 mmNhẹ hơn, ảnh vẫn tốt
160 trang Couche 150 gsmkhoảng 11 mmTên ấn phẩm và logo15 mmBáo trước nếu lật nhiều

Lề trong ở đây tính từ đường gáy tới chữ, mã sản phẩm, số trang. Nền màu và ảnh vẫn chạy tới đường gáy, mép ngoài chừa tràn lề 2 mm. Mốc lề được kỹ thuật kiểm lại khi nhận file theo độ dày thật của cuốn.

GIẤY VÀ THỚ

Hướng thớ phải song song gáy

Sợi giấy xếp theo một hướng (thớ). Khi thớ chạy song song gáy, trang lật mềm và nằm êm. Khi thớ vuông góc gáy, trang cứng lại ở vùng gáy, gợn sóng sau vài ngày vì keo và giấy co giãn theo hai hướng khác nhau, và tờ dễ bật khỏi keo. Hướng thớ trên trang thành phẩm phụ thuộc cách xếp trang lên tờ in, nên hỏi nhà in thay vì đoán từ ram giấy.

BỀ MẶT LIÊN KẾT

Vùng keo trên bìa: không in, không cán, không phủ UV

Keo bám vào thớ giấy, không bám tốt vào lớp mực dày, màng BOPP hay vecni UV. Vì vậy:

  • Mặt trong bìa ở vùng gáy và khoảng 5–7 mm hai bên gáy (vùng keo hông) nên để trắng, không in nền đậm. Nhiều nhà in tự chặn mực vùng này trên file; nếu thiết kế có nền màu kín mặt trong bìa, báo trước để thống nhất.
  • Cán màng chỉ cán mặt ngoài bìa. Keo gáy bám kém trên tờ cán màng ở vùng gáy; mặt trong bìa cán màng sẽ làm bìa dễ tách khỏi khối ruột.
  • Ép kim đặt cách đường gấp gáy ít nhất 3 mm để không nứt khi gấp bìa.
  • Trang ruột có nền mực đậm sát gáy (100% đen hoặc tổng mực cao) bám keo kém hơn trang giấy trắng. Phay sâu hơn giúp một phần; lề trắng 2–3 mm ở mép gáy của trang đó giúp nhiều hơn.

Bìa cán màng nền đậm thường lộ vệt trắng ở hai đường gấp gáy vì lớp mực nứt theo nếp. Bìa được cấn (tạo nếp) trước khi gấp sẽ hạn chế việc này; với nền đen hoặc xanh đậm, xem đường gấp trên cuốn mẫu.

VÙNG ĐỌC THỰC TẾ

Bố trí bảng và ảnh trải gần gáy

Khi mở ở góc đọc tự nhiên (khoảng 120–140°), mỗi trang khuất khoảng 3–6 mm sát gáy tùy độ dày cuốn. Cột mã sản phẩm ở mép trong nên chuyển ra phía ngoài, hoặc chia bảng thành nhóm ngắn có lặp lại mã. Lề trong đổi phía giữa trang trái và trang phải; thêm hoặc bớt một trang phía trước làm bảng chuyển từ trang phải sang trang trái, nên rà lại các trang bảng sau mỗi lần đổi số trang.

Ảnh trải hai trang chỉ dùng cho ảnh tạo cảm giác không gian. Đẩy chủ thể (khuôn mặt, sản phẩm, chữ, mã QR) ra khỏi vùng 10 mm hai bên gáy. Bản vẽ, sơ đồ cần đo hoặc đối chiếu nên đặt gọn trong một trang. Nếu buộc giữ ảnh trải, xem cặp trang đó trên cuốn mẫu đã đóng.

Tờ gấp mở rộng (ví dụ trang A4 mở thành 420 × 297 mm) đóng được trong khối gáy keo, nhưng cánh gấp vào phải ngắn hơn khổ trang khoảng 2–3 mm để không bị dao xén cắt vào nếp. Báo vị trí tờ gấp ngay khi hỏi giá vì nó thay đổi cách xếp trang.

KIỂM THÀNH PHẨM

Kiểm cuốn mẫu gáy keo

Kiểm cuốn mẫu đúng giấy, đúng số trang, theo năm điểm:

  1. Thứ tự trang: lật từ bìa đến trang cuối, kiểm trang mục lục và các trang trắng có chủ ý.
  2. Độ bám tờ: mở ở trang 5–6, trang giữa và trang gần cuối, kéo nhẹ một tờ theo hướng lật. Tờ không tách, không có khe ở gáy là đạt.
  3. Bìa và khối ruột: mở bìa trước, bìa sau ở góc bình thường; trang đầu không bị kéo theo bìa quá nhiều, vùng keo hông không bung.
  4. Đường gấp bìa: xem vệt nứt mực hoặc màng ở hai nếp gáy.
  5. Vùng đọc sát gáy: đọc bảng, mã, QR ở góc mở thực tế, không ép bẻ gáy.
Cạnh cuốn catalogue gáy keo và khối trang được xén gọn
Cạnh cuốn catalogue gáy keo sau khi xén ba cạnh: kiểm độ phẳng mép xén và gáy vuông.

Không bẻ gập cuốn 360° để “thử độ bền”: gáy keo không thiết kế cho thao tác đó, cuốn tốt cũng có thể gãy gáy. Khi nhận hàng có tờ lỏng, chụp ảnh, ghi số trang, giữ nguyên cuốn và mang mẫu tới cơ sở. Nhà in Phát in lại khi xác nhận lỗi do xưởng so với file đã duyệt.

ỨNG DỤNG VÀ ĐẶT IN

Khi nào không nên chọn gáy keo

  • Dưới khoảng 40 trang: gáy dưới 3 mm, keo ít diện tích bám. Kim giữa rẻ hơn và mở phẳng hơn ở cuốn mỏng.
  • Cần đặt mở trên bàn liên tục hoặc ghi chú: chọn catalogue gáy lò xo, mở phẳng và lật 360°.
  • Bảng giá đổi theo quý: gáy keo không thay trang được. Tách bảng giá thành tờ rời chèn cuối cuốn, hoặc chọn lò xo.
  • Ruột toàn giấy dày 250 gsm trở lên: tờ cứng, lực bật lớn, dễ tách khỏi keo; nên hỏi phương án khác.

Khi xin báo giá, gửi: khổ thành phẩm, số trang ruột và bìa tách riêng, giấy ruột và giấy bìa, số cuốn, cán màng một hay hai mặt bìa, gia công bìa, ngày cần dùng và nơi nhận. Giá theo số lượng và quy cách. Đơn ít cuốn theo quy cách thông thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; đơn nhiều cuốn, có tờ gấp hoặc gia công bìa được hẹn lịch cụ thể. Đơn sản xuất sau khi duyệt bản in và đặt cọc 70%; nhận tại hai cơ sở TP.HCM hoặc dùng hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển. Các quy cách khác có trong danh mục in catalogue của Nhà in Phát.

HỎI ĐÁP GÁY KEO

Câu hỏi thường gặp về catalogue gáy keo

Số trang tối thiểu, gáy, keo, vùng keo trên bìa và cách kiểm khi nhận.

Bìa gáy keo nền đen bị vệt trắng ở hai nếp gáy, sửa thế nào?

Vệt trắng là lớp mực và màng nứt theo nếp gấp. Bìa cần được cấn nếp trước khi gấp; nền đen hoặc xanh đậm nên cán màng mờ và tránh đặt chữ nhỏ ngay trên nếp. Xem đường gấp trên cuốn mẫu trước khi in số lượng.

Gáy 120 trang Couche 120 gsm rộng bao nhiêu để làm file bìa?

Khoảng 60 tờ × 0,10 mm + 2 × 0,3 mm bìa ≈ 6,6 mm. Đây là số ước tính; dàn bìa theo khuôn nhà in gửi sau khi kiểm file, vì độ dày giấy chênh theo hãng.

Mặt trong bìa in nền màu kín có ảnh hưởng keo không?

Có. Keo bám kém trên lớp mực dày và màng cán. Vùng gáy và khoảng 5–7 mm hai bên gáy ở mặt trong bìa nên để trắng. Nếu thiết kế bắt buộc nền kín, báo trước để kỹ thuật chặn mực đúng vùng keo.

Vì sao trang gần gáy bị gợn sóng sau vài ngày?

Thường do thớ giấy vuông góc với gáy. Giấy co giãn theo độ ẩm mạnh hơn theo chiều ngang thớ, trong khi keo giữ cố định mép gáy, nên trang gợn sóng. Cách khắc phục là xếp trang cho thớ song song gáy ở lần in sau.

Catalogue gáy keo để trong xe nắng có bị bung gáy không?

Có rủi ro: xe đậu nắng có thể nóng trên 60 °C, keo nhiệt mềm lại và tờ dễ tách khi lật. Không để catalogue trên taplo; cuốn dùng cho đội bán hàng đi xe nhiều nên báo trước khi đặt để được tư vấn giấy và lề gáy.

Ép kim tên catalogue trên gáy 6 mm được không?

Được nếu chữ cao khoảng 3–4 mm và cách hai đường gấp gáy ít nhất 1 mm. File ép kim là vector một màu đặc ở layer riêng. Gáy dưới 4 mm khó ép đều, nên đưa tên lên bìa trước.

Đóng gáy keo cho ruột toàn giấy 250 gsm có bền không?

Rủi ro cao. Tờ dày cứng tạo lực bật lớn khi lật, dễ tách khỏi keo, nhất là khi thớ không song song gáy. Nếu cần ruột cứng, hỏi phương án lò xo trước khi chốt.

Nhận catalogue có vài tờ lỏng thì làm gì?

Chụp ảnh, ghi số trang và số cuốn bị lỗi, giữ nguyên hiện trạng, chưa dán lại. Mang mẫu tới cơ sở hoặc gửi ảnh để kiểm. Nhà in Phát in lại khi xác nhận lỗi do xưởng so với file đã duyệt.

Bạn đang xem: Catalogue gáy keo: chọn keo và kiểm tra độ bền gáy