2시간 빠른 인쇄
Catalogue sản phẩm mở ở trang bố cục ảnh và mã hàng
작성자:
11.10.2026

Cấu trúc catalogue sản phẩm dễ tra cứu và dễ đặt hàng

카탈로그 인쇄 – 무선 제본

Catalogue sản phẩm dễ tra cứu là cuốn mà khách hoặc nhân viên bán hàng tìm được đúng mã trong vài lần lật: mục lục dẫn tới chương, mỗi chương có màu hoặc tab riêng ở mép trang, mỗi trang chi tiết có mã, ảnh và thông số trong cùng một vùng nhìn, và cuối cuốn có chỉ mục theo mã. Trên bản in, các công cụ đó phải được đặt đúng chỗ: số trang và tên chương ở góc ngoài, thông tin quan trọng cách xa gáy, kiểu đóng chọn theo cách lật. Bài này là nơi tổng hợp cách dựng cấu trúc tra cứu; các bài catalogue theo ngành chỉ nêu trường thông tin riêng của ngành đó.

Quy cách khác: In Catalogue Gáy lò xo · In Catalogue kim giữa.

Bài khác với bài ứng dụng catalogue trong bán hàng (chọn quy cách theo nơi dùng cuốn) và bài tính số trang catalogue (chốt độ dày, số trang theo kiểu đóng).

TƯ DUY TỪ NGƯỜI ĐỌC

Người đọc tìm sản phẩm theo đường nào?

Trước khi dàn trang, hãy xác định ai dùng cuốn và họ bắt đầu tìm từ đâu. Khách mới thường tìm theo nhu cầu (“ghế ngoài trời”, “kem chống nắng da dầu”), chưa biết tên dòng hay mã. Nhân viên bán hàng tìm theo dòng sản phẩm rồi chọn biến thể. Đại lý đặt lại hàng tìm thẳng theo mã. Một cuốn có thể phục vụ cả ba, nhưng phải chọn một đường chính để sắp chương, còn các đường còn lại được hỗ trợ bằng chỉ mục.

Đường đi tốt từ nhu cầu đến mã có ba bước: mục lục chỉ tới chương theo công dụng hoặc nhóm hàng, trang chương phân biệt các dòng trong nhóm, trang chi tiết cho đủ thông tin để chọn một mã cụ thể. Nếu khách phải lật qua lại giữa ảnh ở trang này và bảng mã ở trang khác, cấu trúc cần sửa.

Catalogue mở ở phần mục lục và trang chia nhóm sản phẩm
Bố cục mục lục catalogue và trang chia nhóm; nhãn nhóm, mã lấy từ dữ liệu sản phẩm đã duyệt.

Thứ tự trang từ bìa đến trang đặt hàng

  • Bìa: tên thương hiệu, tên cuốn, đối tượng (ví dụ “Catalogue đại lý”) và phiên bản hoặc năm áp dụng ở vị trí dễ thấy, để không dùng lẫn cuốn cũ.
  • Trang cách đọc: giải thích cách đọc mã, đơn vị đo, ký hiệu dùng trong bảng. Một trang là đủ.
  • Mục lục: tên chương và số trang bắt đầu; cuốn dày có thể thêm danh sách dòng sản phẩm trong từng chương.
  • Trang mở chương: tên chương, nhu cầu mà chương đáp ứng, các dòng có trong chương.
  • Trang chi tiết: ảnh, mã, tên, thông số, biến thể của từng sản phẩm hoặc dòng.
  • Chỉ mục và trang đặt hàng: danh sách mã kèm số trang, cách gửi yêu cầu báo giá, kênh liên hệ, mã QR có nhãn mục đích.

Không in bảng giá cố định vào cuốn lưu hành lâu nếu giá thay đổi theo kỳ; tách bảng giá thành tờ rời in theo đợt hoặc dẫn về kênh tư vấn.

Bảng chọn cấu trúc theo người đọc chính

Sắp chương theo người dùng cuốn catalogue
Người đọc chínhSắp chương theoCông cụ tra cứu cần cóKiểu đóng hay dùng
Khách mới chưa biết mãCông dụng, nhu cầuMục lục theo công dụng, ảnh lớn ở trang chươngKim giữa (cuốn mỏng), keo gáy (cuốn dày)
Nhân viên tư vấn tại quầyNhóm hàng rồi dòng sản phẩmMàu chương, tab mép trang, bảng biến thểLò xo (mở phẳng, lật nhiều)
Đại lý đặt lại hàngDòng hoặc mã ổn địnhChỉ mục mã cuối cuốn, phiên bản cuốn trên bìaKeo gáy hoặc lò xo
Người so nhiều phương án kỹ thuậtỨng dụng rồi tiêu chí kỹ thuậtBảng so sánh trên cùng một trải trang스프링 제본 또는 무선 제본

Nếu cuốn quá dày, bỏ sản phẩm đã ngừng bán hoặc ít bán khỏi bản in thay vì giảm cỡ chữ. Thông tin thay đổi liên tục có thể dẫn về trang web bằng mã QR.

Trang chi tiết: trường thông tin và cỡ chữ

Mỗi mã cần mã ổn định, tên dễ đọc, ảnh chính, một câu nêu khác biệt, các thông số khách hay hỏi và các biến thể (màu, cỡ, chất liệu). Trường cụ thể khác theo ngành: catalogue nội thất cần mã vật liệu và kích thước; catalogue mỹ phẩm cần tách dòng, sắc độ và dung tích; catalogue thời trang và lookbook tách trang cảm hứng với bảng mã, màu, cỡ; catalogue máy móc, thiết bị ưu tiên model, đơn vị và phụ kiện tương thích; Catalogue thực phẩm, nhà hàng cần tên món hoặc quy cách đóng gói; catalogue dự án bất động sản cần phân biệt phối cảnh, mặt bằng và dữ liệu đã duyệt.

  • Một vùng nhìn: ảnh, mã và thông số của cùng sản phẩm nằm cạnh nhau, không tách sang trang khác.
  • Cỡ chữ: mã và tên sản phẩm nổi bật nhất trong khối; chữ trong bảng thông số không nhỏ hơn khoảng 7 pt, ghi chú khoảng 6–7 pt là mức tối thiểu cho bản in đọc gần.
  • Đơn vị thống nhất: cả cuốn dùng một đơn vị (mm hoặc cm); ghi rõ kích thước phủ bì hay kích thước lắp đặt.
  • Ảnh biến thể: chú thích sát ảnh, màu A không đặt cạnh mã màu B.
  • Ảnh đủ nét: khoảng 300 ppi ở kích thước in; ảnh nhỏ phóng to sẽ thiếu nét dù nhìn trên màn hình vẫn ổn.
Trang chi tiết catalogue có ảnh sản phẩm và vùng thông số dễ tra cứu
Trang chi tiết catalogue với ảnh, mã và thông số trong một vùng đọc; dữ liệu cần được bộ phận sản phẩm xác nhận.

Lề gáy và vị trí thông tin theo kiểu đóng

Kiểu đóng quyết định phần nào của trang bị khuất khi mở cuốn, nên phải chọn trước khi đặt mã, QR và bảng so sánh.

Kiểu đóng và cách đặt thông tin tra cứu
제본 방식Cách mở레이아웃 유의 사항
중철 제본가운데 페이지에서 거의 평평하게 펼쳐짐Tổng số trang chia hết cho 4; trang giữa bị đẩy ra ngoài khi gấp lồng, chữ sát mép ngoài cần cách xa hơn
Keo gáy (gáy vuông)Không mở phẳng, mép trong bị khuấtLề trong rộng hơn lề ngoài; không đặt mã, QR, cột bảng sát gáy; gáy in được tên cuốn để tra trên kệ
스프링 제본평평하게 펼쳐지고 360° 넘김Chừa lề đục lỗ phía gáy; bảng trải hai trang bị dải lò xo cắt ngang

Bảng so sánh trải qua hai trang không đặt cột quyết định đúng vào đường gáy. Cách chọn kiểu đóng theo cách dùng có ở bài so sánh ba kiểu đóng catalogue.

Số trang, phiên bản và cập nhật

Số trang chốt sau khi có danh sách mã, không trước. Với kim giữa, nếu nội dung lẻ trang, thêm trang ghi chú hoặc chỉ mục để đủ bội số 4 thay vì kéo giãn trang sản phẩm. Ghi phiên bản (ví dụ “Bản 2026-1”) trên bìa và chân trang chỉ mục; khi thêm, bỏ mã, cập nhật cả mục lục, chỉ mục và các trang dẫn chiếu tới mã đó. Thêm sản phẩm mới vào đúng chương theo logic phân nhóm, không nhét vào trang còn trống ở chương khác.

Công cụ tra cứu trên bản in

Mục lục và tên chương

Tên chương dùng từ khách hiểu (theo công dụng hoặc nhóm hàng), không dùng tên bộ sưu tập nội bộ. Nếu khách quen gọi một dòng bằng tên cũ, ghi tên cũ trong ngoặc ở mục lục hoặc chỉ mục. Mục lục đặt ở trang phải đầu cuốn, cỡ chữ đủ đọc khi cầm cuốn ở khoảng cách bình thường.

Chỉ mục mã hàng cuối cuốn

Catalogue có nhiều mã nên có chỉ mục cuối cuốn: danh sách mã sắp theo thứ tự chữ số, kèm tên ngắn và số trang. Giữ nguyên số 0 ở đầu mã khi chuyển dữ liệu từ bảng tính sang file dàn trang. Mã không còn trong bản in thì không trỏ tới một trang “gần giống”.

Màu chương và tab ở mép trang

Mỗi chương một màu nhận diện, lặp lại ở trang mở chương và ở một dải màu nhỏ tại mép ngoài các trang trong chương. Khi gập cuốn, các dải màu tạo thành vạch nhìn thấy ở cạnh sách, giúp lật thẳng tới chương (kiểu thumb index). Dải màu phải in tràn lề 2 mm ra ngoài mép xén và đặt so le theo chiều cao cho từng chương. Tab giấy bế nhô ra khỏi mép là gia công riêng, cần hỏi khả năng làm và báo giá khi đặt. Màu chương nên khác nhau rõ khi in (tránh hai tông xanh gần nhau).

Đầu trang chạy và số trang

Mỗi trang chi tiết có tên chương và số trang ở góc ngoài phía trên hoặc phía dưới, không đặt sát gáy. Khi một trang bị chụp gửi qua Zalo, khách vẫn biết trang thuộc chương nào và cuốn phiên bản nào nếu chân trang có tên cuốn và phiên bản. Ký hiệu dùng trong bảng (dấu có, dấu tùy chọn) nên có chú giải ngắn ngay trên trang hoặc ở chân trang.

Kiểm dữ liệu trước khi xuất file

Dùng một bảng dữ liệu đã chốt làm nguồn duy nhất cho tên, mã, thông số, ảnh và QR; người phụ trách sản phẩm duyệt bảng đó trước khi dàn trang. Ô trống trong bảng cần phân biệt “không áp dụng” với “chưa có”. Kiểm lại phút cuối: mã, ảnh đúng biến thể, đơn vị, số điện thoại, địa chỉ, đích của từng QR. Nhà in kiểm file về mặt in (khổ, tràn lề, độ nét, màu), còn tính đúng của mã và thông số thuộc về doanh nghiệp.

Thử tra cứu trên bản in thử

Trước khi in số lượng, nhờ một người không tham gia thiết kế làm ba việc trên bản in thử: tìm mã của một sản phẩm qua ảnh, tìm biến thể khác cỡ của nó, tìm cách liên hệ đặt hàng. Ghi lại chỗ họ dừng hoặc nhầm và sửa cấu trúc ở đó. Bản in thử còn giúp kiểm vùng gáy, màu chương và cỡ chữ thật; xem thêm cách duyệt mẫu catalogue trước khi in hàng loạt.

Chuẩn bị file và đặt in

File PDF đúng khổ thành phẩm (A4 hoặc A5 là khổ thường dùng), tràn lề 2 mm mỗi cạnh, chữ cách mép xén khoảng 5 mm, nhúng font, ảnh khoảng 300 ppi. Gửi file CMYK, hoặc gửi RGB để kỹ thuật chuyển khi kiểm file và báo vùng màu có thể dịu đi. Xuất theo trang đơn, đúng thứ tự trang; ghi rõ kiểu đóng và tổng số trang kể cả bìa.

Giá theo số lượng và quy cách; xem báo giá trên trang In Catalogue kim giữa, gáy keo hoặc gáy lò xo, hoặc xem toàn bộ quy cách tại danh mục in catalogue. Đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; đơn nhiều cuốn được hẹn lịch cụ thể. Kiểm file và tư vấn miễn phí; dàn trang, chỉnh file có tính phí và báo trước. Đặt cọc 70%, nhận tại 441/31 Điện Biên Phủ, Phường Thạnh Mỹ Tây hoặc 37A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Sài Gòn, TP.HCM, hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.

GIẢI ĐÁP HỆ TRA CỨU SẢN PHẨM

Câu hỏi về cấu trúc catalogue tra cứu

Mục lục, chỉ mục, màu chương và vị trí thông tin trên bản in.

Catalogue bao nhiêu trang thì cần chỉ mục mã cuối cuốn?

Khi cuốn có nhiều mã đến mức một mục lục theo chương không đủ để tìm mã nhanh, thường là cuốn có vài chục mã trở lên hoặc đại lý hay đặt lại theo mã. Cuốn mỏng ít mã chỉ cần mục lục chương. Chỉ mục chiếm một đến vài trang cuối và phải cập nhật mỗi phiên bản.

Dải màu chương ở mép trang có cần gia công riêng không?

Không. Dải màu là phần in, chỉ cần đặt ở mép ngoài, in tràn lề 2 mm và so le theo chiều cao cho từng chương. Tab giấy bế nhô ra khỏi mép mới là gia công riêng, cần hỏi khả năng làm và báo giá.

Catalogue gáy keo nên đặt số trang ở đâu?

Ở góc ngoài, phía trên hoặc phía dưới, không đặt gần gáy vì gáy keo không mở phẳng và mép trong bị khuất. Đặt cùng vị trí trên mọi trang để người đọc lướt mép là thấy.

Mã QR trong catalogue đặt ở đâu và cỡ bao nhiêu?

Đặt xa gáy, trên nền sáng, có vùng trắng quanh mã và một nhãn ngắn ghi mục đích (xem video, đặt hàng, liên hệ). Cạnh mã khoảng 18–22 mm là mức thường dùng cho ấn phẩm cầm tay; đường dẫn dài cần mã lớn hơn. Thử quét trên bản in thử.

Có nên in bảng giá vào catalogue không?

Chỉ khi giá ổn định trong suốt thời gian cuốn lưu hành. Nếu giá đổi theo kỳ, in bảng giá thành tờ rời kẹp kèm hoặc dẫn về kênh tư vấn, để không phải in lại cả cuốn khi giá thay đổi.

Catalogue kim giữa bị lẻ trang thì xử lý thế nào?

Tổng số trang kim giữa phải chia hết cho 4. Nếu thiếu, thêm trang ghi chú, chỉ mục hoặc trang giới thiệu doanh nghiệp; nếu thừa ít, gộp trang có nội dung ngắn. Không kéo giãn ảnh sản phẩm chỉ để lấp trang.

Một sản phẩm thuộc hai chương thì in ở đâu?

In trang chi tiết ở chương chính, còn ở chương thứ hai đặt một dòng dẫn chiếu kèm số trang. Lặp nguyên trang ở hai nơi làm cuốn dày hơn và dễ lệch thông tin khi cập nhật.

Màu chương nên chọn thế nào để in ra vẫn phân biệt được?

Chọn màu khác nhau rõ về tông (xanh, cam, xám, đỏ), tránh hai màu cùng tông chỉ khác độ đậm. Kiểm trên bản in thử vì một số màu rực trên màn hình in ra dịu hơn và gần nhau hơn.

Catalogue dùng tại quầy, lật nhiều nên đóng kiểu gì?

Lò xo mở phẳng và lật được 360°, hợp cuốn để trên quầy cho nhân viên tra liên tục; nhớ chừa lề đục lỗ ở phía gáy. Gáy keo đẹp hơn trên kệ và in được tên ở gáy nhưng không mở phẳng.

Trang catalogue bị chụp gửi khách mất ngữ cảnh, khắc phục ra sao?

Đặt tên chương, tên cuốn và phiên bản ở đầu hoặc chân mỗi trang, và chú giải ký hiệu ngay trên trang có bảng. Khi một trang bị chụp riêng, khách vẫn biết sản phẩm thuộc nhóm nào và thông tin thuộc bản nào.

Bạn đang xem: Cấu trúc catalogue sản phẩm dễ tra cứu và dễ đặt hàng