메뉴판 제본: 점검해야 할 링 제본, 스프링 제본, 나사 제본 3가지
Quán đổi giá, đổi món vài lần mỗi năm nên chọn khoen hoặc gáy ốc để thay từng tờ mà giữ bìa. Quán ít đổi nội dung chọn lò xo: lật 360°, gọn, mở phẳng trên bàn. Cỡ khoen, chiều dài ốc hay đường kính lò xo tính theo tổng độ dày ruột cộng bìa, chừa thêm cho trang sẽ bổ sung.
Table of Contents
Khi trao đổi quy cách in menu, gửi khổ, số trang và số lần đổi giá mỗi năm. Ba con số đó gần như quyết định kiểu gáy.

1. Chọn gáy theo cách quán dùng menu
Menu cuốn của nhà hàng thường là ruột Couche 200–250 gsm cán màng hai mặt, bìa dày hơn ruột. Khổ A4 (210 × 297 mm) cho quán nhiều món, A5 (148 × 210 mm) cho quán cafe, quán ăn nhỏ. Từ đó chọn gáy theo ba câu hỏi:
- Bao lâu đổi giá một lần? Từ 2–3 lần mỗi năm trở lên thì cần gáy thay được từng tờ: khoen hoặc ốc.
- Khách mở menu ở đâu? Bàn nhỏ, khách cầm tay thì lò xo gập ra sau được; bàn rộng thì kiểu nào cũng dùng tốt.
- Sẽ thêm bao nhiêu trang? Gáy ốc và khoen có giới hạn độ dày; lò xo đóng theo đúng độ dày lúc in.
Nhân viên phục vụ thu, xếp, lau menu nhiều lần mỗi ca. Khoen kim loại cấn vào nhau khi xếp chồng; lò xo nhựa bị bẹp nếu đè nặng. Hãy nghĩ cả lúc menu nằm trong kệ, không chỉ lúc nằm trên bàn khách.
2. Menu đóng khoen: thay từng tờ bằng tay

Khoen là vòng kim loại có khớp mở bằng tay. Mỗi tờ đục 2–3 lỗ, thường đường kính khoảng 5–6 mm, tâm lỗ cách cạnh gáy khoảng 10–12 mm. Thay giá chỉ cần in lại một tờ, mở khoen, rút tờ cũ, lồng tờ mới. Đây là kiểu gáy thay trang nhanh nhất, phù hợp quán đổi giá theo mùa.
Điểm cần lưu ý: tờ in lại phải đục lỗ đúng khoảng cách lỗ của bộ cũ. Khi đặt in lại ruột, gửi một tờ cũ hoặc số đo khoảng cách giữa các tâm lỗ. Chữ và giá đặt cách cạnh gáy ít nhất 15–18 mm để không bị lỗ cắt vào. Trang in hai mặt thì mặt sau có vùng gáy ở phía ngược lại.
Khoen mở được cũng có nghĩa khách có thể vô tình mở. Sau mỗi lần thay, đóng khoen đến khi nghe khớp và lật thử cả cuốn.
3. Menu lò xo: lật 360°, ít thay trang

Lò xo (kẽm hoặc nhựa) luồn qua dãy lỗ nhỏ dọc gáy. Menu mở phẳng trên bàn và gập ra sau thành một trang khi khách cầm tay. Lò xo hợp menu ổn định, đổi nội dung một lần mỗi năm hoặc ít hơn.
Lò xo kẽm sau khi bấm kín không mở lại bằng tay; thay một tờ thường phải tháo vòng và đóng vòng mới, nên quán đổi giá thường xuyên sẽ thấy bất tiện. Dãy lỗ chiếm khoảng 10–12 mm cạnh gáy; chữ đặt cách cạnh gáy từ 15 mm. Đường kính lò xo chọn lớn hơn độ dày cả cuốn khoảng 2–3 mm để trang lật trơn; cuốn dày 10 mm thường dùng vòng khoảng 12–14 mm.
4. Gáy ốc: thay ruột bằng cách tháo ốc
Gáy ốc dùng cặp ốc vít (ốc âm, ốc dương) xuyên qua 2–3 lỗ ở gáy, thường đi với bìa bồi cứng hoặc bìa da. Gáy cho cảm giác chắc và sang hơn khoen. Thay ruột bằng cách vặn ốc ra bằng tay hoặc tua vít, rút tờ, lắp lại.
Chiều dài ốc giới hạn độ dày cả cuốn. Ốc phổ biến dài 5, 10, 15, 20 mm; tổng độ dày ruột cộng bìa phải nhỏ hơn hoặc bằng chiều dài ốc. Thêm trang vượt chiều dài thì đổi ốc dài hơn. Gáy ốc không mở phẳng như lò xo: phần gần gáy bị kẹp chặt, nên lề trong cần rộng 18–20 mm.
5. Bảng so sánh khoen, lò xo và gáy ốc
| 기준 | Khoen | 스프링 제본 | Gáy ốc |
|---|---|---|---|
| Thay một tờ | Nhanh, mở khoen bằng tay | Thường phải thay vòng | Tháo ốc, rút tờ, lắp lại |
| Mở trên bàn | Mở phẳng, tờ xoay quanh khoen | Phẳng, gập 360° | Không phẳng, kẹp ở gáy |
| 확보할 제본 여백 | 15–18 mm | Từ 15 mm | 18–20 mm |
| Giới hạn độ dày | Theo đường kính khoen | Theo đường kính vòng, đóng đúng độ dày lúc in | Theo chiều dài ốc 5–20 mm |
| Bìa đi kèm hợp | Bìa cán màng, bìa nhựa | Bìa giấy cán màng | Bìa bồi cứng, bìa da |
| Hợp quán | Đổi giá theo mùa, nhiều trang | Ít đổi nội dung, khách cầm tay | Muốn bìa sang, đổi giá vài lần/năm |
6. Độ dày ruột và bìa quyết định cỡ gáy
Tính độ dày trước khi chọn cỡ gáy. Một tờ Couche 250 gsm cán màng hai mặt dày khoảng 0,3 mm. Menu 12 tờ là khoảng 3,6 mm ruột. Bìa bồi carton 2–3 mm, trước và sau cộng thêm 4–6 mm. Cả cuốn dày khoảng 8–10 mm: ốc 10 mm vừa khít, không còn chỗ thêm trang; ốc 15 mm còn chỗ cho khoảng 15 tờ nữa.
Bìa và gáy chọn như một bộ. Menu bìa da thường đi với gáy ốc vì bìa dày, cứng. Menu bìa bồi gập đôi là cấu trúc khác: bìa Couche từ 300 gsm bồi lên carton 2–3 mm, cấn đường gập, không cần gáy đóng cuốn nếu nội dung vừa hai mặt trong.

7. Vệ sinh, cất giữ và nghiệm thu
Cán màng giúp lau mặt in bằng khăn ẩm, nhưng mép giấy và lỗ đục vẫn hút nước. Không ngâm hay xịt trực tiếp vào gáy. Dùng cồn hoặc dung dịch sát khuẩn thì thử trên một tờ trước vì có thể làm mờ lớp in. Khoen và ốc kim loại lau khô sau khi lau ướt để không gỉ.
Cất menu đứng trong kệ hoặc nằm thành chồng không quá cao. Menu lò xo nhựa đè nặng lâu ngày sẽ bẹp vòng. Menu khoen xếp so le gáy để khoen không cấn vào bìa cuốn bên cạnh.
Khi nhận menu, nghiệm thu từng cuốn theo bốn điểm: thứ tự trang đúng, lỗ không cắt vào chữ hay giá, gáy mở đóng trơn, bìa không trầy. Lật hết các trang ở cả hai chiều, không chỉ mở trang đầu.
8. Thông tin cần gửi để báo giá
- Khổ menu (A4, A5 hoặc khổ riêng có số đo mm) và số bộ.
- Số tờ ruột, in một hay hai mặt, giấy ruột và có cán màng không.
- Loại bìa: giấy cán màng, bìa bồi, bìa da.
- Kiểu gáy và số trang dự kiến thêm trong năm.
- Nếu chỉ in lại ruột cho bìa cũ: ảnh gáy, khoảng cách tâm lỗ và đường kính lỗ đo bằng thước.
Menu cuốn có gáy, bìa bồi hoặc bìa da được hẹn lịch theo số cuốn. Giá theo số lượng và quy cách; báo giá theo cấu hình tại trang đơn menu Nhà in Phát.
Hướng dẫn liên quan để chốt quy cách
- Kiểm tra phương án thay ruột khi chỉ đổi giá món.
- Chừa vùng gáy trong file trước khi gửi in.
Nếu so quy cách menu ở Thế Giới In Nhanh, ghi rõ kiểu gáy, cỡ khoen hoặc chiều dài ốc trong yêu cầu, vì giá chỉ so được khi cùng cấu hình gáy và bìa.
Câu hỏi khi chọn gáy menu
Những điều chủ quán hay hỏi khi chọn khoen, lò xo hoặc gáy ốc cho menu cuốn.
Quán đổi giá 3–4 lần một năm thì nên chọn khoen hay gáy ốc?
Khoen nếu muốn tự thay nhanh tại quán, chỉ cần mở khoen bằng tay. Gáy ốc nếu muốn bìa bồi hoặc bìa da sang hơn và chấp nhận vặn ốc mỗi lần thay. Cả hai đều in lại riêng những tờ đổi giá, giữ nguyên bìa.
Menu 20 tờ Couche cán màng dùng ốc dài bao nhiêu?
20 tờ Couche 250 gsm cán màng hai mặt dày khoảng 6 mm, cộng bìa bồi hai mặt 4–6 mm là 10–12 mm. Chọn ốc 15 mm để vừa và còn chỗ thêm vài tờ. Nếu bìa giấy mỏng, ốc 10 mm là đủ.
Menu đóng khoen hay gáy ốc có nên in dư vài tờ ruột để thay khi bẩn không?
Nên, với các trang khách mở nhiều nhất như trang món chính và đồ uống. In dư khoảng 10–20% số tờ của những trang đó, cất phẳng trong bìa hồ sơ. Khi một tờ dính dầu hoặc rách mép lỗ, thay ngay mà không phải đặt in lại cả bộ.
In lại ruột cho bộ khoen cũ cần gửi số đo gì?
Gửi khoảng cách giữa các tâm lỗ, đường kính lỗ và khoảng cách từ tâm lỗ đến cạnh gáy, đo bằng thước mm. Gửi kèm một tờ cũ làm mẫu đục thì chắc chắn hơn. Sai 1–2 mm là tờ mới khó lồng vào khoen.
Menu song ngữ Việt – Anh có cần gáy khác không?
Không cần gáy khác, nhưng số trang thường tăng gần gấp đôi nếu tách hai ngôn ngữ ra hai trang. Đặt hai ngôn ngữ trên cùng trang (tên Việt 12 pt, tên Anh 10 pt) giữ số tờ thấp, giúp vẫn dùng được ốc 10 mm hoặc lò xo nhỏ.
Menu khổ dài đóng gáy cạnh ngắn có được không?
Được với lò xo và khoen. Menu khổ dài, ví dụ 140 × 360 mm, đóng cạnh ngắn ở trên để lật lên như lịch treo. Kiểm thứ tự nội dung mặt sau: khi lật lên, mặt sau phải xoay 180° trong file.
Gáy ốc có làm che chữ ở trang trong không?
Có nếu chữ đặt gần gáy. Gáy ốc kẹp chặt và không mở phẳng, nên mất khoảng 10 mm gần gáy mỗi trang. Chừa lề trong 18–20 mm và không đặt giá món ở cột sát gáy.
Menu đóng khoen để ngoài sân có bị gỉ không?
Khoen thép mạ có thể gỉ khi ướt lâu ngày, nhất là ở khớp mở. Lau khô sau khi lau ướt và không để menu qua đêm ngoài trời. Khoen nhựa không gỉ nhưng giữ được ít tờ hơn và kém chắc hơn.

