대형 도시계획 설계 과제 인쇄: 파일, 색상, 도면 세트 점검
In đồ án quy hoạch là in cả một bộ gồm bản đồ tổng thể A0–A2, mặt cắt, phối cảnh và thuyết minh A3–A4, sao cho đúng tỷ lệ, đọc được ký hiệu và khớp phiên bản đã duyệt. Trước khi gửi file, lập danh mục tờ theo mã, khổ, màu hay trắng đen và số bộ; xuất PDF đúng khổ thật, không “vừa trang”; in thử một tờ có nét mảnh nhất, màu phân vùng sát nhau nhất và ảnh nền tối nhất. Tờ khổ lớn có thể gấp về A4 để đặt chung bìa hồ sơ.
Nội dung chuyên môn và kết quả thẩm định do đơn vị lập đồ án và bên tiếp nhận quyết định. Phần in cần đúng ba thứ: tỷ lệ, độ đọc được của ký hiệu và phiên bản tờ.
Một bộ đồ án quy hoạch gồm những tờ nào
Bộ thường có ba nhóm, mỗi nhóm một cách in:
- Bản đồ, bản vẽ tổng thể khổ A0 (841 × 1189 mm), A1 (594 × 841 mm), A2 (420 × 594 mm): sơ đồ vị trí, hiện trạng, sử dụng đất, tổ chức không gian, giao thông, hạ tầng kỹ thuật. Tỷ lệ thường 1/500 với quy hoạch chi tiết, 1/2000 với quy hoạch phân khu.
- Phối cảnh, minh họa: in màu trên Couche dày, có thể cán màng.
- Thuyết minh, bảng chỉ tiêu khổ A3–A4: in laser, đóng lò xo hoặc keo nhiệt.
Lập bảng danh mục trước khi in: mã tờ, tên tờ, khổ, màu hay trắng đen, số bản mỗi tờ, cuộn hay gấp. Bộ 16 tờ in 5 bộ là 80 tờ; ghi rõ từng dòng giúp báo giá và kiểm giao không sót.

Chọn cách in theo mục đích từng tờ
Cùng một bản đồ, tờ đọc tại bàn họp, tờ treo lấy ý kiến và tờ lưu hồ sơ cần ba quy cách khác nhau.
| 용도 | 주요 크기 | Cách in, vật liệu | Điểm phải kiểm trên tờ mẫu |
|---|---|---|---|
| Họp rà soát kỹ thuật tại bàn | A1, A0 | In màu trên giấy, cuộn hoặc để phẳng | Chữ nhỏ nhất, mã lô, đường ranh, chú giải |
| Hồ sơ trình duyệt, lưu | A0–A2 gấp về A4; thuyết minh A3–A4 | In màu, gấp, đóng lò xo hoặc keo nhiệt | Khung tên lộ ra sau khi gấp, thứ tự tờ |
| Treo lấy ý kiến nhiều ngày | A0 hoặc lớn hơn | In PP cán màng, bồi formex hoặc bạt | Đọc được ở khoảng 1–2 m, chống cong mép |
| Bản vẽ kỹ thuật nhiều bản | A3–A1 | In trắng đen trên Fort 80–120 gsm | Nét mảnh, hatch, tỷ lệ đo thực tế |
| Sao chép bản giấy cũ | Theo bản gốc | Quét, photocopy khổ lớn | Độ rõ nét mờ, chữ viết tay |
Kiểm file PDF từ AutoCAD, GIS và phần mềm dàn trang
AutoCAD: mỗi layout phải đúng khổ giấy, hướng trang, bảng nét (CTB/STB) và tỷ lệ 1:1 khi plot ra PDF. Nét mảnh dưới 0,13 mm dễ mờ trên giấy; nét chính thường 0,35–0,5 mm, ranh giới quy hoạch 0,5–0,7 mm. Nếu nhiều layout có cấu hình khác nhau, xem trước từng layout thay vì dùng một thiết lập chung.
GIS: bản đồ có lớp trong suốt (vùng phủ màu 50% trên nền ảnh) nên xuất PDF/X-4, chuẩn tương thích in giữ được trong suốt, hoặc làm phẳng (flatten) ở độ phân giải cao. Kiểm chú giải và thang màu trong PDF còn khớp bảng dữ liệu đã duyệt.
Illustrator, InDesign: nhúng font hoặc chuyển thành đường nét, mở thử PDF trên máy khác để kiểm dấu tiếng Việt trong nhãn và chú giải.
Đặt tên file theo mã tờ, khổ và lần phát hành, ví dụ QH-05_SDD_A0_PH2.pdf. Khi thay một tờ, gửi rõ mã tờ cũ bị loại và file mới có hiệu lực; không gửi hai file trùng tên rồi để người in đoán bản nào mới hơn.
Giữ tỷ lệ và khung tên khi in khổ lớn
In đúng tỷ lệ nghĩa là in 100%, không bật “Fit to page”. File A1 in “vừa trang” lên giấy A1 vẫn có thể co khoảng 2–4% vì máy chừa lề, đủ làm sai số đo trên bản đồ 1/500. Thu A1 về A3 (tỷ lệ chiều dài 50%) thì bản 1/500 thành 1/1000 trên giấy; ghi chữ “TL 1/500” lúc này sai.
Vì vậy, mỗi bản đồ nên có thước tỷ lệ đồ họa (thanh chia 0–50–100 m) bên cạnh tỷ lệ ghi bằng chữ. Thước đồ họa co giãn cùng bản vẽ nên luôn đúng. Trên tờ mẫu, đo một đoạn thước bằng thước thép: 100 m ở 1/500 phải dài đúng 200 mm.
Khung tên (tên tờ, mã tờ, tỷ lệ, ngày phát hành, đơn vị lập) phải cách mép giấy tối thiểu 10 mm để không bị lề máy cắt mất. Nếu khung sát mép, người lập file dịch khung vào trong rồi xuất lại PDF; dịch hay co bản vẽ ở bước in sẽ làm sai tỷ lệ.
Màu phân vùng và ảnh nền: kiểm trên tờ in thật
Màn hình phát sáng, giấy phản xạ ánh sáng. Màu đất ở vàng nhạt và đất hỗn hợp cam nhạt nhìn khác nhau trên màn hình nhưng có thể gần như trùng trên giấy. Hai màu phân vùng cạnh nhau nên chênh ít nhất 10–15% ở một kênh màu, và mỗi ô nên có nhãn ký hiệu chữ để vẫn đọc được khi bản đồ bị photo trắng đen.
Trước khi in cả bộ, in một dải ô màu gồm toàn bộ màu chú giải ở kích thước 20 × 20 mm, đặt cạnh nhau như trên bản đồ. Rẻ hơn nhiều so với in lại một tờ A0.
Ảnh vệ tinh nền: tính theo độ phân giải mặt đất. Ở tỷ lệ 1/2000, 1 mm trên giấy bằng 2 m thực địa; ảnh 0,5 m/pixel cho 4 pixel mỗi mm, khoảng 100 ppi. Đủ làm nền mờ dưới lớp quy hoạch, không đủ để xem rõ từng mái nhà. Phối cảnh A1 nên có ảnh từ khoảng 150–200 ppi tại khổ in, tức khoảng 3500 × 4970 pixel ở 150 ppi.
Duyệt tờ mẫu trước khi nhân nhiều bộ
Chọn một tờ “khó” nhất làm mẫu: có nét mảnh, hatch dày, màu phân vùng sát nhau, ảnh nền tối và khung tên gần mép. In ở đúng khổ và kiểm bốn điểm: đo thước tỷ lệ, đọc chữ nhỏ nhất ở khoảng cách dự kiến, so màu với chú giải, kiểm khung tên còn đủ.
Ghi lỗi theo mã tờ, chia ba nhóm: lỗi nội dung do file, lỗi quy cách đặt in, lỗi thành phẩm. Lỗi thuộc file thì người thiết kế sửa và gửi file mới đã duyệt; nội dung đồ án chỉ thay đổi qua người lập. Đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; bộ nhiều tờ khổ lớn, có tờ mẫu, gấp, cán, bồi hoặc nhiều bộ được hẹn lịch cụ thể.
Gấp, cuộn, bồi và giao nhận
Gấp về A4 (210 × 297 mm) dùng cho hồ sơ trình duyệt: gấp kiểu ngăn kéo theo chiều dọc trước, chiều ngang sau, để khung tên ở góc phải dưới nằm ngoài cùng. Tờ A0 gấp về A4 có khoảng 16 lớp giấy chồng lên, nên chừa lề trái 20–25 mm nếu tờ gấp được đóng chung cuốn.
Cuộn dùng cho tờ trưng bày, phối cảnh: không để lại nếp gấp; cuộn mặt in ra ngoài và đặt trong ống cứng. Bồi formex 3–5 mm hoặc in PP cán màng dùng cho tờ treo nhiều ngày. Nếu người họp còn cần ghi chú bằng bút trên tờ, không cán màng tờ đó.
Nhà in Phát có hai cơ sở tại 37A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Sài Gòn và 441/31 Điện Biên Phủ, Phường Thạnh Mỹ Tây, TP.HCM. Nhà in Phát hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển; ống cuộn tờ A0 dài khoảng 90 cm trở lên, nên chọn loại xe phù hợp khi đặt ship. Nếu bộ in phục vụ một buổi họp, báo giờ bộ hồ sơ cần có mặt tại phòng họp để hẹn lịch in và giao cho kịp.
Gửi yêu cầu báo giá
Gửi một lần: PDF đã chốt, bảng danh mục (mã tờ, khổ, màu hay trắng đen, số bản), vật liệu từng nhóm, cách gấp, cuộn hay bồi, kiểu đóng thuyết minh, nơi nhận và ngày cần. Kiểm file và tư vấn là miễn phí; giá báo theo số tờ từng khổ và gia công. Đặt cọc 70% khi chốt đơn.
Với nhu cầu in từng tờ bản vẽ kỹ thuật, xem dịch vụ in và photocopy bản vẽ kiến trúc. Khi cần kiểm layout bản vẽ kỹ thuật và tỷ lệ trước in, tham khảo hướng dẫn chuẩn bị bản vẽ AutoCAD A0-A3. Thông tin về hệ thống in trực tuyến có tại Thế Giới In Nhanh.
Câu hỏi khi in đồ án quy hoạch
Thước tỷ lệ, ảnh nền, màu phân vùng, lớp trong suốt và cách gấp tờ A0.
Bản đồ quy hoạch nên có thước tỷ lệ đồ họa hay chỉ ghi tỷ lệ 1/500?
Nên có cả hai. Tỷ lệ ghi bằng chữ chỉ đúng khi in 100% đúng khổ; thước đồ họa co giãn cùng bản vẽ nên vẫn đúng khi bản đồ bị thu về A3 để họp. Ở 1/500, đoạn 100 m trên thước phải dài 200 mm khi in đúng khổ.
Nền ảnh vệ tinh 0,5 m/pixel có đủ cho bản đồ tỷ lệ 1/2000 khổ A0 không?
Ở 1/2000, mỗi mm trên giấy là 2 m thực địa, nên ảnh 0,5 m/pixel cho khoảng 4 pixel mỗi mm, tương đương 100 ppi. Đủ làm nền mờ dưới lớp quy hoạch; muốn đọc rõ từng công trình thì cần ảnh khoảng 0,25 m/pixel hoặc bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn.
Bản đồ GIS có lớp phủ trong suốt nên xuất PDF thế nào để không lỗi khi in A0?
Xuất PDF/X-4 để giữ trong suốt, hoặc làm phẳng ở độ phân giải cao (từ 300 ppi cho lớp raster). Mở PDF ở 100%, kiểm vùng chồng lớp có bị viền trắng, sọc hay đổi màu không trước khi gửi.
Màu đất ở và đất hỗn hợp rất gần nhau, làm sao biết in ra còn phân biệt được?
In một dải ô màu chú giải cỡ 20 × 20 mm đặt cạnh nhau rồi xem dưới đèn phòng họp. Hai màu cạnh nhau nên chênh ít nhất 10–15% ở một kênh màu; mỗi vùng nên có nhãn ký hiệu chữ để vẫn đọc được khi photo trắng đen.
Bản đồ A0 dùng để họp nhiều buổi có nên cán màng không?
Cán màng giúp tờ chịu ẩm, bẩn tay và trải ra cuộn vào nhiều lần, nhưng mặt màng khó ghi chú bằng bút bi và tờ cứng hơn nên không gấp về A4 được. Tờ dùng để ghi chú trong họp thì để giấy trơn; tờ treo hoặc trải nhiều buổi mới cán.
Bản đồ treo lấy ý kiến cộng đồng nhiều ngày nên in vật liệu gì?
PP cán màng hoặc PP bồi formex 3–5 mm để tờ phẳng, không cong mép. Treo ngoài hiên có mưa tạt thì hỏi thêm phương án bạt. Chữ chú giải trên tờ treo nên lớn hơn bản đọc tại bàn vì người xem đứng cách 1–2 m.
Đặt 5 bộ hồ sơ, mỗi bộ 16 tờ nhiều khổ, nên ghi danh mục thế nào?
Lập bảng mỗi dòng một tờ: mã tờ, tên tờ, khổ, màu hay trắng đen, gấp hay cuộn, số bản. Ghi tổng theo khổ ở cuối (ví dụ A0: 4 × 5 = 20 tờ). Bảng này đi kèm PDF giúp báo giá đúng và kiểm giao đủ từng bộ.

