2시간 빠른 인쇄
Danh thiếp nền xanh navy cán màng mờ ép kim vàng logo, đặt cạnh thẻ cán bóng in ảnh màu
작성자:
03.10.2026

Danh thiếp ép kim hay cán màng: chọn hiệu ứng theo thiết kế và giấy

Ép kim tạo lớp nhũ kim loại phẳng, sáng khi nghiêng thẻ. Cán màng mờ cho mặt thẻ mịn, ít lóa và làm nền để vùng nhũ tách rõ; cán màng bóng giữ màu in rực, dễ lau. Chọn ép kim cho logo hoặc tên cần ánh kim, cán mờ khi muốn thẻ trầm và nổi nhũ, cán bóng cho thẻ nhiều ảnh màu. Nhà in Phát không nhận phủ UV định hình, dập nổi hay dập chìm. Ép kim và cán màng đặt tại In Name Card; đơn có ép kim được hẹn lịch riêng.

BẢN CHẤT

Ba gia công khác nhau từ cách làm

Ép kim

Một khuôn kim loại khắc hình được nung nóng, ép cuộn nhũ lên giấy. Lớp keo trên nhũ chảy ra và giữ lớp kim loại mỏng ở đúng chỗ khuôn chạm. Kết quả là chi tiết phẳng, không nổi, ánh kim đổi theo góc nhìn. Vàng và bạc là hai màu nhũ thông dụng. Ép kim không phải mạ vàng và không tạo khối nổi.

Cán màng mờ và cán màng bóng

Lớp màng BOPP mỏng được cán phủ toàn mặt thẻ sau khi in. Cán mờ cho bề mặt mịn, ít lóa, ít lộ vân tay; logo ép kim trên nền cán mờ tách hẳn khỏi nền khi nghiêng thẻ dưới đèn. Cán bóng làm màu in rực hơn và dễ lau, hợp thẻ có ảnh hoặc mảng màu tươi. Cả hai giúp mặt in đậm ít trầy khi cầm trong ví.

기준Ép kim
Hiệu ứng chínhÁnh kim, phẳng
Giấy hợpCouche 300–350 gsm cán mờ, Bristol, giấy mỹ thuật mặt mịn
Nét mảnh nhất (thường gặp)0,2–0,3 mm
Chữ nhỏ nhất (thường gặp)6–7 pt, font không chân
Mặt sauKhông ảnh hưởng
Hợp choLogo, tên, viền mảnh

Các mốc trong bảng là kiến thức ngành thường gặp, phụ thuộc độ dày giấy, độ sâu vân và kích thước khuôn. Kiểm file sẽ chỉ ra chi tiết nào trong logo của bạn nhỏ hơn mức này.

GIẤY

Giấy và màng quyết định độ bám, độ nét

  • Couche 300–350 gsm cán màng mờ: nền phổ biến nhất cho ép kim. Màng BOPP mờ phẳng, nhũ bám đều và tách rõ khỏi nền.
  • Couche không cán: ép kim được, nhưng mặt nền in đậm dễ trầy khi cầm. Thẻ in nền đậm nên cán màng mờ hoặc bóng để bảo vệ mặt in.
  • Giấy mỹ thuật vân sần, vân kẻ: hợp thẻ muốn giữ cảm giác vân giấy khi cầm. Ép kim trên vân sâu có thể không phủ kín đáy vân; chọn chữ và logo nét đậm từ 0,5 mm.
  • Giấy đen, giấy màu tối: ép kim vàng hoặc bạc lên nổi rõ, không cần mực trắng.

Muốn thẻ có vân giấy rõ khi cầm, chọn giấy mỹ thuật dày tại name card giấy mỹ thuật. So sánh các loại giấy có ở bài chọn giấy in danh thiếp Couche hay mỹ thuật.

VỊ TRÍ

Đặt gia công ở đâu trên thẻ 88 × 53 mm

Thẻ thành phẩm 88 × 53 mm có ít chỗ, nên mỗi mặt chỉ nên có một điểm nhấn. Ba quy tắc khoảng cách thường gặp:

  • Chi tiết ép kim và UV cách mép thành phẩm ít nhất 3 mm, vì sai số cắt thường 0,5–1 mm.
  • Giữa hai nét ép kim cần khe hở từ 0,3–0,5 mm. Hẹp hơn, nhũ dễ dính liền hai nét.

Mã QR không nên ép kim. Nhũ phản sáng làm camera điện thoại khó đọc mã. In QR bằng mực đen trên nền sáng, cạnh từ 15 mm, như hướng dẫn trong bài thiết kế danh thiếp có mã QR.

Kết hợp hai gia công trên một thẻ

Ép kim thường đặt trên nền cán màng mờ: lớp màng phẳng giúp nhũ bám đều, và mặt mờ làm vùng nhũ nổi bật khi nghiêng thẻ. Muốn ép kim cả hai mặt thì mỗi mặt cần khuôn riêng, nên chi phí và lịch nhận tăng theo.

FILE

Tách lớp gia công trong file

  1. Dựng file 92 × 57 mm, tức khổ 88 × 53 mm cộng 2 mm tràn lề mỗi cạnh.
  2. Vẽ phần gia công bằng vector, tô một màu đặc 100%, ví dụ K100 hoặc màu pha đặt tên “Foil”, “UV”, “Emboss”. Không dùng ảnh, không dùng hiệu ứng chuyển sắc hay bóng đổ.
  3. Mỗi gia công một layer hoặc một trang PDF riêng, cùng kích thước và cùng gốc tọa độ với trang in màu.
  4. Trên trang in màu, xóa phần màu nằm dưới vùng ép kim nếu muốn kim hiện trên nền giấy trống. Giữ phần màu nếu muốn kim nằm trên nền đã in.
  5. Chuyển chữ của lớp gia công thành đường nét.

Lỗi hay gặp nhất là gửi một ảnh JPG có logo màu vàng và ghi chú “phần vàng ép kim”. Nhũ được ép theo khuôn, khuôn được làm từ vector, nên logo dạng ảnh phải vẽ lại. Vẽ lại hoặc chỉnh file có tính phí và được báo chi phí trước khi làm.

DUYỆT VÀ ĐẶT

Duyệt mẫu và lịch nhận

Màn hình chỉ mô phỏng được vị trí, không thể hiện ánh kim, độ bóng hay độ nổi. Khi duyệt, hãy xem file tách lớp ở tỷ lệ 100% để chắc từng vùng gia công đúng chỗ. Nếu cần so cảm giác thật, xem thẻ mẫu cùng loại giấy tại cơ sở.

Gia công cần làm khuôn, nên đơn có ép kim không theo mốc khoảng 2 giờ của thẻ thường mà được hẹn lịch cụ thể sau khi chốt file và đặt cọc 70%. Chi phí phụ thuộc số gia công, diện tích khuôn, số mặt và số tấm; xem các yếu tố ở bài giá in danh thiếp phụ thuộc yếu tố nào. Bạn nhận thẻ tại cơ sở Bình Thạnh, cơ sở Quận 1, hoặc dùng hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển.

자주 묻는 질문

Câu hỏi về ép kim và cán màng trên danh thiếp

Độ bám, mặt sau, kích thước chi tiết và cách gửi file gia công.

Ép kim trên giấy đã cán màng mờ có bám không?

Bám tốt. Màng BOPP mờ là nền phổ biến nhất cho ép kim vì mặt phẳng và đều. Nhũ bám kém hơn khi ép chồng lên lớp vecni UV hoặc lên vân giấy quá sâu.

Chữ ép kim nhỏ nhất bao nhiêu pt thì không bị dính nét?

Thường từ 6–7 pt với font không chân, nét đều. Font có chân mảnh nên từ 8 pt. Khe hở giữa hai nét cần từ 0,3–0,5 mm; hẹp hơn, nhũ dễ lấp kín lòng chữ như e, a, ơ.

Chi tiết ép kim có bị bong hoặc mòn khi để danh thiếp trong ví không?

Nhũ ép trên nền cán màng bám chắc, khó bong. Sau thời gian dài cọ xát, cạnh của chi tiết rất mảnh dưới 0,3 mm có thể mòn trước. Logo và chữ nét từ 0,5 mm giữ ánh kim lâu hơn.

Logo chỉ có file ảnh PNG thì ép kim được không?

Phải vẽ lại thành vector trước, vì khuôn ép được làm từ đường nét vector. Logo đơn giản vẽ lại nhanh; logo nhiều chi tiết mảnh có thể phải làm đậm nét. Vẽ lại có tính phí và được báo trước.

Có làm được ép kim cả hai mặt danh thiếp không?

Làm được, mỗi mặt một lượt ép và có thể một khuôn riêng. Chi phí và lịch tăng theo số lượt ép, nên nhiều thẻ chỉ ép logo mặt trước và để mặt sau in màu thường.

Bạn đang xem: Danh thiếp ép kim hay cán màng: chọn hiệu ứng theo thiết kế và giấy