2시간 빠른 인쇄
Catalogue mở và tờ in thử có dấu xén khi chuẩn bị PDF
작성자:
02.10.2026

Chuẩn bị file PDF in catalogue: bleed, vùng an toàn và font chữ

카탈로그 인쇄 – 무선 제본

File PDF in catalogue đạt chuẩn khi mỗi trang dựng đúng khổ thành phẩm cộng 2 mm tràn lề mỗi cạnh (A4 thành 214 × 301 mm), chữ cách mép xén ít nhất 3–5 mm, lề phía gáy rộng theo kiểu đóng cuốn, font đã nhúng và ảnh đạt khoảng 300 ppi ở kích thước đặt. Gửi ruột là các trang đơn liên tục theo thứ tự đọc, đừng bình trang sẵn. Catalogue kim giữa cần tổng số trang chia hết cho 4; catalogue gáy keo cần thêm file bìa trải có gáy.

Quy cách khác: In Catalogue Gáy lò xo · In Catalogue kim giữa.

THIẾT LẬP TÀI LIỆU

Dựng trang đúng khổ thành phẩm

Khổ trang trong phần mềm dàn trang phải bằng khổ cuốn sau khi xén. Catalogue A4 dọc dựng trang 210 × 297 mm, A5 dựng 148 × 210 mm, khổ vuông 210 × 210 mm dựng đúng số đo đó. Đừng dựng trang lớn rồi thu nhỏ khi xuất: chữ 9 pt trên A4 thu về A5 chỉ còn khoảng 6,4 pt, bảng thông số và chú thích ảnh khó đọc. Chọn khổ trước khi dàn trang có ở bài catalogue bao nhiêu trang là hợp lý cùng bài so sánh khổ trên trang In Catalogue.

Ruột catalogue gửi dạng trang đơn liên tục: trang 1, 2, 3… theo thứ tự người đọc lật. Bạn có thể xem trải đôi khi thiết kế, nhưng khi xuất PDF hãy chọn trang đơn. Thứ tự ghép trang lên tờ in (bình trang) do nhà in làm theo khổ tờ và kiểu đóng; nếu tự ghép trang 1 với trang cuối, file sẽ bị in sai thứ tự.

TRÀN LỀ VÀ VÙNG AN TOÀN

Tràn lề 2 mm và vùng an toàn

Mọi nền màu, ảnh hoặc mảng hình chạm mép phải kéo ra ngoài đường xén 2 mm mỗi cạnh. Trang A4 khi xuất có tràn lề sẽ là 214 × 301 mm, trang A5 là 152 × 214 mm. Thiếu tràn lề, sai số xén 0,5–1 mm sẽ để lộ một chỉ trắng ở mép.

Ngược lại, chữ, số trang, logo, mã QR và giá trị trong bảng phải lùi vào trong. Mép ngoài và mép trên dưới giữ ít nhất 3–5 mm tính từ đường xén. Phía gáy cần rộng hơn, tùy kiểu đóng ở mục dưới.

Tờ in thử catalogue thể hiện vùng tràn và đường xén cạnh cuốn thành phẩm
Vị trí kiểm vùng tràn và dấu xén.
제본 방식

Lề gáy theo kiểu đóng cuốn

Ba kiểu đóng ăn vào vùng gáy khác nhau. Lề trong (phía gáy) chọn sai là lỗi khó sửa nhất, vì chữ bị nuốt vào gáy chỉ phát hiện khi cuốn đã đóng.

제본 방식페이지 수Lề trong cho chữ (thường gặp)File bìa
중철 제본Chia hết cho 4, tính cả 4 trang bìa (8, 12, 16… trang)Từ 5 mm; cuốn dày cần chừa thêm ở mép ngoài vì độ đẩy trangChung PDF với ruột: trang 1 là bìa trước, trang cuối là bìa sau
무선 제본Ruột đủ dày để keo bám, thường từ khoảng 40 trangKhoảng 10–15 mm, vì cuốn không mở phẳngFile bìa trải riêng: bìa sau + gáy + bìa trước
스프링 제본Số trang tùy ý, mỗi tờ hai mặtKhoảng 12–15 mm để tránh dải đục lỗBìa trước, bìa sau là hai trang riêng

Kim giữa: số trang chia hết cho 4

Kim giữa gấp đôi các tờ lồng vào nhau rồi ghim qua nếp gấp. Mỗi tờ cho 4 trang, nên tổng trang (cả bìa) phải là 8, 12, 16, 20… Catalogue 22 trang nội dung phải thêm 2 trang (ví dụ trang ghi chú hoặc liên hệ) hoặc bớt xuống 20.

Khi lồng nhiều tờ, tờ ở giữa bị đẩy ra ngoài một chút so với tờ ngoài cùng. Sau khi xén, mép ngoài của trang giữa hẹp hơn trang bìa. Hiện tượng này gọi là độ đẩy trang, được bù khi bình trang. Phần của bạn là giữ chữ và số trang cách mép ngoài từ 5 mm trở lên nếu cuốn từ khoảng 32 trang. Hình ảnh trải đôi qua gáy ở trang giữa nối liền đẹp nhất, nên đặt ảnh lớn cần trải đôi vào trang giữa cuốn.

Gáy keo: bìa trải và độ rộng gáy

Bìa gáy keo là một tấm trải gồm bìa sau, gáy và bìa trước. Độ rộng gáy bằng độ dày ruột thật. Ví dụ ruột 80 trang là 40 tờ; nếu mỗi tờ dày khoảng 0,12–0,14 mm thì gáy khoảng 5–5,5 mm. Bìa trải A4 lúc đó rộng 210 + 5,5 + 210 = 425,5 mm, cộng 2 mm tràn lề mỗi cạnh. Độ dày giấy thay đổi theo loại và định lượng, nên số gáy chính xác được báo theo giấy thật sau khi chốt ruột; đừng dựng bìa trước khi có số này.

Keo bám vào mép gáy của từng tờ. Tờ cán màng bám keo kém ở vùng gáy, nên ruột gáy keo thường không cán màng. Cuốn gáy keo cũng không mở phẳng, khoảng 3–5 mm sát gáy gần như không nhìn thấy. Đây là lý do lề trong cần 10–15 mm và ảnh trải đôi qua gáy sẽ mất một dải ở giữa.

Lò xo: chừa dải đục lỗ

Lò xo cần đục một hàng lỗ cách mép gáy khoảng 4–6 mm, đường kính lò xo theo độ dày cuốn. Mọi chữ phải nằm ngoài dải này, tức cách mép gáy khoảng 12–15 mm. Bù lại, cuốn lò xo mở phẳng và lật được 360°, hợp với bảng giá hoặc catalogue kỹ thuật cần đặt trên bàn.

ẢNH, MÀU, CHỮ

Ảnh, màu và chữ trong file

Độ phân giải ảnh ở kích thước đặt

Catalogue được cầm đọc ở khoảng cách 30–40 cm, nên ảnh cần khoảng 300 ppi tính tại kích thước đặt trên trang. Số pixel cần = cạnh in (inch) × 300. Ảnh phủ kín trang A4 có tràn lề (214 × 301 mm, tức khoảng 8,4 × 11,9 inch) cần khoảng 2.530 × 3.560 pixel. Một ảnh 1.200 pixel chiều ngang đặt rộng 210 mm chỉ đạt khoảng 145 ppi và sẽ thấy vỡ hạt ở cạnh sản phẩm. Ảnh phóng to trong phần mềm dàn trang làm giảm ppi hiệu dụng theo đúng tỷ lệ phóng. Cách kiểm chi tiết có ở bài độ phân giải ảnh cho catalogue.

Màu CMYK, nền đen và in chồng

Chuyển ảnh và màu thiết kế sang CMYK trước khi duyệt, để màu xem trên màn hình gần với bản in. Mảng xanh, cam rất tươi trong RGB thường xỉn đi sau chuyển đổi. Tổng lượng mực ở vùng tối nên giữ dưới khoảng 300% để tránh lem, dính tờ. Nền đen lớn dùng đen tổng hợp có kiểm soát (ví dụ phổ biến C60 M40 Y40 K100); chữ đen nhỏ, số trang, bảng thông số dùng K100 đơn. Thêm cách đọc màu trong bài màu CMYK khi in catalogue.

Chữ K100 nhỏ để chế độ in chồng giúp không hở viền trắng khi màu lệch nhẹ. Đối tượng màu trắng thì không được để in chồng, vì khi in nó sẽ biến mất. Đây là lỗi hay gặp ở logo trắng trên nền ảnh.

Font và dấu tiếng Việt

Nhúng toàn bộ font khi xuất PDF. Font không hỗ trợ đủ ký tự tiếng Việt sẽ làm dấu rời khỏi chữ hoặc biến ữ, ậ, ợ thành ô vuông. Gõ thử một dòng có nhiều dấu bằng đúng font đang dùng trước khi dàn cả cuốn. Chữ thân bài trên catalogue thường từ 8–10 pt, chú thích ảnh không dưới 7 pt. Chữ trắng trên nền ảnh nên từ 8 pt và đậm vừa, vì nét mảnh dễ bị màu nền lấn khi in.

Catalogue mở phẳng cho thấy ảnh, khoảng cách chữ và vùng gần gáy cần kiểm trên bản in
Catalogue mở phẳng cho thấy ảnh, khoảng cách chữ và vùng gần gáy cần kiểm trên bản in.
XUẤT FILE

Xuất PDF in

  1. Chọn chuẩn PDF/X-1a hoặc PDF/X-4. PDF/X là chuẩn tương thích cho in: bắt buộc nhúng font, khai báo khổ trang và vùng tràn. Đây không phải chuẩn nén.
  2. Bật tràn lề 2 mm. Dấu xén (crop marks) đặt cách khổ thành phẩm ít nhất 2 mm để không lấn vào vùng tràn.
  3. Không nén ảnh JPEG chất lượng thấp. Giữ ảnh tối thiểu 300 ppi trong cài đặt xuất.
  4. Ruột xuất trang đơn. Với gáy keo, bìa trải xuất thành một file riêng một trang.
  5. Đặt tên file đủ thông tin: catalogue-A4-kimgiua-24tr-v3.pdf. Bản sửa sau tăng số phiên bản, không đặt “final”, “final2”.

Thứ tự từ thiết kế tới in có ở bài quy trình thiết kế và in catalogue.

ĐỌC KẾT QUẢ PREFLIGHT PDF

Preflight trước khi gửi

Preflight là bước kiểm PDF bằng công cụ, ví dụ Preflight và Output Preview trong Acrobat Pro. Mắt thường xem PDF trên màn hình không thấy font chưa nhúng, ảnh RGB hay đối tượng trắng bị in chồng. Chạy preflight trên đúng file sẽ gửi, không phải file trước khi sửa.

Mục kiểmKết quả cần thấyLỗi thường gặp
페이지 수Đúng tổng trang; kim giữa chia hết cho 4Thiếu trang trắng, trùng một trang
TrimBoxBằng khổ thành phẩm (A4: 210 × 297 mm)Trang lớn hơn do xuất kèm vùng làm việc
BleedBoxRộng hơn TrimBox 2 mm mỗi cạnhCó BleedBox nhưng nền không kéo ra tới
FontMọi font ở trạng thái Embedded hoặc Embedded SubsetFont thiếu, dấu tiếng Việt rơi
ẢnhKhoảng 300 ppi hiệu dụng, CMYKẢnh dưới 150 ppi, ảnh RGB sót lại
오버프린트Chữ K100 nhỏ in chồng; đối tượng trắng không in chồngLogo trắng biến mất khi xem Output Preview

Ba mục cần đọc trong báo cáo

Page box: TrimBox quyết định đâu là trang sẽ thành cuốn. Nếu nền chỉ dừng ở TrimBox, việc nới BleedBox không tạo thêm hình; phải sửa trong file thiết kế rồi xuất lại.

Font: “Embedded Subset” là bình thường, nghĩa là chỉ nhúng các ký tự có dùng. Cần sửa khi báo cáo ghi “Not embedded” hoặc khi tìm từ trong PDF ra ký tự lạ.

Ảnh: báo cáo cho ppi hiệu dụng theo từng ảnh. Ảnh bị crop chỉ hiện một góc nhỏ vẫn được tính theo kích thước đặt của cả khung ảnh, nên hãy đối chiếu với vị trí thật trên trang. Ảnh vector như QR hoặc logo mà báo cáo ghi là ảnh raster nghĩa là đã bị làm phẳng khi xuất; mã QR raster cần đạt ít nhất 300 ppi và quét thử trên bản in.

BÀN GIAO

Gửi file và duyệt bản cuối

Gửi một gói gồm: PDF ruột, PDF bìa (nếu gáy keo), và một dòng quy cách: khổ, tổng trang, kiểu đóng, giấy bìa, giấy ruột, cán màng, số cuốn. Kiểm file và tư vấn miễn phí; nếu file cần sửa, nhân viên chỉ ra trang và lỗi để bạn sửa, hoặc báo chi phí nếu bạn muốn Nhà in Phát chỉnh file. Không gửi thêm file mới sau khi đã duyệt mà không báo số phiên bản.

Đơn thường khoảng 2 giờ sau khi chốt file; đơn nhiều cuốn được hẹn lịch cụ thể. Đặt cọc 70% khi chốt đơn. Bạn nhận cuốn tại cơ sở Bình Thạnh, cơ sở Quận 1, hoặc dùng hỗ trợ book ship, phí theo ứng dụng vận chuyển. Chọn kiểu đóng tại catalogue kim giữa, catalogue gáy keo hoặc catalogue gáy lò xo.

자주 묻는 질문

Câu hỏi khi chuẩn bị file PDF catalogue

Khổ trang, tràn lề, gáy, font và cách xuất PDF gửi in.

Có nên gửi PDF catalogue dạng trải đôi hai trang liền nhau không?

Không nên. Gửi trang đơn liên tục theo thứ tự đọc. File trải đôi phải tách lại trước khi bình trang, dễ sai thứ tự và lệch vùng tràn ở gáy. Ngoại lệ là bìa gáy keo, gửi dạng một tấm trải có gáy.

Bìa catalogue kim giữa gửi chung hay riêng với ruột?

Gửi chung một PDF: trang 1 là bìa trước, trang 2 là mặt trong bìa trước, hai trang cuối là mặt trong bìa sau và bìa sau. Tổng trang tính cả 4 trang bìa và phải chia hết cho 4.

Có cần đặt dấu xén trong PDF catalogue không?

Không bắt buộc nếu PDF có TrimBox bằng khổ thành phẩm và BleedBox rộng hơn 2 mm mỗi cạnh. Nếu đặt dấu xén, để chúng cách khổ thành phẩm ít nhất 2 mm, ngoài vùng tràn, để không in lẫn vào trang.

Làm sao biết độ rộng gáy để dựng bìa gáy keo?

Độ rộng gáy bằng độ dày ruột thật, phụ thuộc số tờ và loại giấy. Ví dụ 80 trang là 40 tờ, giấy dày khoảng 0,13 mm thì gáy khoảng 5,2 mm. Chỉ dựng bìa khi đã chốt số trang và giấy ruột, rồi lấy số gáy chính xác khi báo giá.

File InDesign có ảnh liên kết thì gửi PDF hay gửi cả gói Package?

Gửi PDF in là đủ, vì PDF đã nhúng ảnh và font, không mất liên kết. Gói Package gồm file .indd, thư mục ảnh và font chỉ cần khi bạn muốn Nhà in Phát sửa nội dung; việc chỉnh file có tính phí và được báo trước.

Chữ trên trang catalogue cách mép gáy bao nhiêu là đủ?

Kim giữa từ khoảng 5 mm, gáy keo khoảng 10–15 mm, lò xo khoảng 12–15 mm. Các mép còn lại giữ ít nhất 3–5 mm tính từ đường xén.

Font báo “Embedded Subset” có cần nhúng lại toàn bộ không?

Không cần. Embedded Subset nghĩa là chỉ nhúng các ký tự có trong file, đủ để in đúng. Chỉ cần xuất lại khi font báo Not embedded, hoặc khi kiểm thấy dấu tiếng Việt bị lệch.

Số trang in ở chân trang có cần khớp với thứ tự trang của PDF không?

Nên khớp. Bìa trước là trang 1 của PDF dù không in số, nên trang PDF thứ 3 nên mang số 3. Lệch số dễ làm người kiểm hiểu sai thứ tự, nhất là khi có trang trắng chèn thêm cho đủ bội số 4.

Logo trắng có trong file thiết kế nhưng biến mất trên bản in, do đâu?

Thường do logo trắng bị đặt chế độ in chồng. Trắng in chồng nghĩa là không in gì đè lên nền, nên logo biến mất. Tắt in chồng cho đối tượng trắng, rồi xem lại bằng Output Preview trước khi xuất.

Bạn đang xem: Chuẩn bị file PDF in catalogue: bleed, vùng an toàn và font chữ